Gửi anh Xuân

Cập nhật lúc 15h39  -  Ngày 12/10/2016

share facebookgửi emailin bài này

GỬI ANH XUÂN

Tháng Năm 1965

Anh Xuân và các anh thân mến,

Chúng tôi đã nhận được thư trả lời của các anh. Trên những vấn đề cơ bản về phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam, về nhiệm vụ, chiến lược, sách lược trước mắt và lâu dài, chúng ta đều nhất trí. Trong thư này, tôi nói rõ một số vấn đề mà các anh hỏi hoặc nêu ra để trao đổi; đồng thời cũng bổ sung thêm nhận định của tôi về mấy vấn đề sau đây:

- Âm mưu của địch hiện nay.

- Mấy khả năng phát triển của tình hình.

- Chỗ mạnh, chỗ yếu của Mỹ và những nhân tố bảo đảm thắng lợi của ta.

- Giữ vững phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự.

- Tổng khởi nghĩa và lập chính quyền trung ương.

1. Mấy tháng gần đây, nhất là từ sau Tết, Mỹ đã đẩy mạnh bắn phá miền Bắc, đưa thêm quân Mỹ và quân các nước chư hầu vào miền Nam, dùng phi pháo, hóa chất độc đánh phá ác liệt vùng giải phóng. Ý định hiện nay của Mỹ là làm thay đổi tương quan lực lượng đang biến chuyển không có lợi cho chúng, ngăn cản sự lớn mạnh của cách mạng miền Nam nhất là của lực lượng vũ trang, hòng thoát khỏi thế bị động, ổn định tình hình nội bộ bọn tay sai, tiến lên giành thế mạnh cho một giải pháp chính trị hoặc để tiếp tục mở rộng chiến tranh.

Việc Mỹ bắn phá miền Bắc, tăng quân vào miền Nam đưa đến những thay đổi gì trong tình hình chung của cả nước và của miền Nam? Trước hết cần nhận rằng hành động đó của Mỹ chứng tỏ chúng quyết bám giữ miền Nam chứ chưa phải đã chịu buông ra một cách dễ dàng. Vì nếu chịu thất bại ở miền Nam tức là Mỹ thú nhận sự phá sản của chiến lược "chiến tranh đặc biệt", điều đó sẽ dẫn đến những thất bại không lường được của Mỹ ở Đông Nam Á và trên thế giới. Trước mắt, lực lượng vũ trang của ta ở miền Nam chưa đủ mạnh để giáng cho Mỹ những đòn chí tử, thì chúng vẫn còn hết sức ngoan cố quyết bám giữ miền Nam nước ta. Nhưng trong khi đó, Mỹ đã phải nói đến thương lượng, đàm phán, nói đến tôn trọng Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954. Điều đó có nghĩa là quyết tâm của Mỹ đã bắt đầu bị lung lay trước sự lớn mạnh ngày càng rõ của phong trào cách mạng miền Nam, trước sự thất bại ngày càng rõ của Mỹ và tay sai. Mỹ nói muốn thương lượng, đàm phán, trở lại Hiệp nghị Giơnevơ là vì thấy không thể thống trị được miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới như trước, song lại muốn giữ miền Nam trung lập theo kiểu phương Tây không để nó rơi vào quỹ đạo của cộng sản. Như vậy, so với trước, quyết tâm của Mỹ bám giữ miền Nam có thấp hơn, yếu hơn. Đưa thêm quân vào miền Nam, bắn phá miền Bắc, đó cũng chỉ là phòng ngự một cách tích cực, để gỡ thế bị động, cứu vãn ngụy quân, ngụy quyền miền Nam khỏi sụp đổ. Ý đồ chính trị của Mỹ thấp hơn trước, nên dù có đẩy mạnh các cố gắng quân sự, chúng vẫn chưa ra khỏi thế phòng ngự. Cố nhiên, từ thế bị động, Bộ tham mưu Mỹ luôn luôn tìm cách giành lại thế chủ động để tiến công và chúng ta không nên đánh giá thấp âm mưu này.

2. Với ý đồ quân sự và chính trị như vậy, cuộc chiến tranh vẫn còn trong khuôn khổ "chiến tranh đặc biệt"33. Về phía ta, nhiệm vụ quân sự và chính trị ở miền Nam về cơ bản chưa có gì thay đổi. Không có vấn đề thay đổi đường lối và phương châm đã được xác định mà chỉ là vận dụng đường lối, phương châm đó cho thích hợp để đối phó với sách lược mới của Mỹ mà thôi. Nếu Mỹ đưa thêm từ 10 đến 15 vạn quân thì chủ yếu vẫn là phòng ngự chứ chưa phải chuyển hẳn sang tiến công. Dù có đánh ra một số nơi, ý định của Mỹ cũng chỉ là đóng một số chốt vào các căn cứ chiến lược của ta, nhằm ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào, hạn chế sự hoạt động và phát triển của chủ lực ta ở miền Nam, và từng bước tham gia tác chiến cùng với quân ngụy. Hoạt động quân sự của ta hiện nay ngoài việc nhằm vào quân ngụy, phải đối phó với quân Mỹ mới đưa vào. Chỗ dựa chủ yếu của Mỹ vẫn là ngụy quân và ngụy quyền. Nếu quân ngụy tan rã, ngụy quyền lung lay thì với 10-15 vạn quân viễn chinh, Mỹ vẫn không thể thay đổi được cục diện ở miền Nam đang tiến triển có lợi cho cách mạng.

Ta có thể coi việc tăng quân Mỹ lên 10-15 vạn là một bước "leo thang" quan trọng. Trong bước này, về cơ bản, tính chất của cuộc chiến tranh chưa thay đổi, vẫn là "chiến tranh đặc biệt", song là một kiểu "chiến tranh đặc biệt" ở mức độ cao, bao gồm một số yếu tố của "chiến tranh cục bộ". Nhưng nếu Mỹ đưa khoảng 25 đến 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam, lấy đó làm chỗ dựa chính để tiến hành chiến tranh xâm lược, thì tính chất chiến tranh thay đổi căn bản. "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam sẽ chuyển hẳn sang "chiến tranh cục bộ". Đến lúc đó, quân Mỹ phải tự mình trực tiếp đảm nhiệm cuộc chiến tranh là chính, cuộc chiến tranh xâm lược "Mỹ hóa". Và như vậy, giặc Mỹ phải đánh lâu dài với quân và dân miền Nam được miền Bắc chi viện đầy đủ về sức người, sức của và được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa. Về phía ta, không những đã biết đánh lâu dài mà ta còn có khả năng đánh lâu dài. Đế quốc Mỹ sa lầy ở miền Nam chắc chắn sẽ bị thất bại thảm hại hơn cả Pháp ở Angiêri; và hậu quả của thất bại đó trong nước Mỹ, trên toàn thế giới sẽ không lường hết được. Đế quốc Mỹ đang đứng trước tình thế khó khăn: đưa quân vào ít thì sợ thua, mà đưa quân vào nhiều thì cũng không thấy đường ra.

Lâu nay, Mỹ thường khoe khoang ưu thế của không quân và hải quân. Nhưng qua mấy tháng trực tiếp đương đầu với không quân Mỹ ở miền Bắc, chúng ta thấy Mỹ không thể phát huy ưu thế đó, trái lại, chúng ngày càng lộ rõ nhược điểm.

Cách đối phó tốt nhất để không cho Mỹ chuyển "chiến tranh đặc biệt" thành "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, hoặc đưa chiến tranh bằng lục quân ra miền Bắc, là ta phải đánh mạnh, đánh trúng hơn nữa ở miền Nam, làm tan rã nhanh chóng quân ngụy, chỗ dựa chủ yếu của Mỹ; là phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị, nhanh chóng tạo thời cơ, tiến đến tổng công kích, tổng khởi nghĩa làm cho Mỹ không kịp trở tay, không kịp lao vào những hành động phiêu lưu quân sự mới.

3. Quyết tâm của Đảng ta và nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất cứ loại chiến tranh nào là dựa trên sự phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của Mỹ, để không phạm sai lầm chủ quan, khinh địch, đồng thời để có quyết tâm đầy đủ, có cách đánh tốt nhất giành thắng lợi cuối cùng.

Nhìn chung tiềm lực kinh tế, quân sự thì phải nói là Mỹ mạnh hơn ta. Riêng ngân sách quân sự của Mỹ hằng năm hiện nay là 50 tỷ đôla, trong khi đó, giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp của miền Bắc nước ta hằng năm chỉ trên 1 tỷ đôla. Nhưng tại sao ta vẫn cho là Mỹ yếu? Nói đến mạnh, yếu là nói về lực lượng so sánh cụ thể, trong thời gian và không gian nhất định, chứ không phải là làm một bài tính đơn giản, máy móc. Chúng ta nhận định rằng hiện nay ở Việt Nam, Mỹ yếu cả về chính trị lẫn quân sự.

Hãy điểm qua một vài sự kiện để thấy rõ Mỹ không mạnh ở chỗ nào. Về quân sự, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ nắm độc quyền bom nguyên tử và dùng nó để đe dọa nhân dân các nước, trong khi Liên Xô chưa có bom nguyên tử. Thế mà sau khi phát xít Nhật bị đánh bại ở Mãn Châu, cách mạng Trung Quốc thành công, Mỹ không dám dùng bom nguyên tử. Với 5 nghìn cố vấn Mỹ và 5 triệu quân Tưởng, Mỹ đành cam chịu thất bại ở Trung Quốc, rõ ràng là Mỹ không mạnh. Đến chiến tranh Triều Tiên, Mỹ trực tiếp tham gia và lôi kéo 16 nước đồng minh và chư hầu, dùng danh nghĩa Liên hiệp quốc, hòng thôn tính miền Bắc Triều Tiên, nhưng kết quả Mỹ đã thua, không dám dùng bom nguyên tử và phải ngồi vào Hội nghị Bàn Môn Điếm. Trong chiến tranh Đông Dương, mặc dù đã can thiệp và gánh chịu 80% chi phí quân sự cho Pháp, kết cục cả Mỹ lẫn Pháp đều phải xách cặp đến Hội nghị Giơnevơ. Ở Cu Ba, Mỹ diễu võ dương oai, nhưng không đe dọa nổi một dân tộc anh hùng với 7 triệu dân. Ở Lào, Mỹ đã phải chịu thừa nhận một chính phủ liên hiệp có Pathét Lào tham gia. Cách mạng Lào đã giúp ta hiểu rõ hơn đâu là giới hạn của Mỹ. Chính do nhận định đúng lực lượng so sánh ở đây, nên quân cách mạng mới đánh thắng trận Nậm Thà33, đưa đến Hiệp nghị Giơnevơ năm 1962 về Lào34.

Tóm lại, từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, không có tên đế quốc nào thua nhiều như Mỹ. Vì lẽ gì Mỹ thất bại nhiều như thế, nếu không phải là do ở từng nơi, từng lúc nhất định, lực lượng của Mỹ yếu hơn lực lượng cách mạng?

Từ khi Liên Xô có bom nguyên tử, Mỹ đã mất độc quyền về loại vũ khí này, nên chúng đã phải thay đổi chiến lược "trả đũa" ồ ạt bằng chiến lược "phản ứng linh hoạt" với ba loại chiến tranh: chiến tranh tổng lực, "chiến tranh cục bộ", "chiến tranh đặc biệt". Nhưng dù "linh hoạt" đến đâu, Mỹ vẫn không tránh khỏi số phận thất bại nhục nhã của kẻ đi xâm lược. Ở miền Nam nước ta, có thể nói Mỹ đã sử dụng tất cả các loại vũ khí hiện đại, trừ vũ khí nguyên tử. Nhưng Mỹ vẫn đi từ thất bại này đến thất bại khác; còn lực lượng cách mạng miền Nam thì không ngừng lớn mạnh nhanh chóng. Trước đây, thực dân Pháp đánh ta với 60 vạn quân và nhiều danh tướng, rốt cuộc được một bài học đích đáng ở Điện Biên Phủ, đành cuốn gói về nước và bị Mỹ hất cẳng ra khỏi miền Nam. Với 80 vạn quân, Pháp lại một lần nữa thất bại trước sức kháng chiến ngoan cường của 12 triệu nhân dân Angiêri, phải ngồi vào đàm phán tại Hội nghị Êvian. Quân Pháp đã thua thì quân Mỹ cũng sẽ thua. Bộ binh Mỹ tác chiến không bằng bộ binh Pháp. Còn không quân, hải quân Mỹ dù có trang bị hiện đại đến đâu, cũng đã lộ rõ nhược điểm trước cuộc chiến tranh nhân dân ở cả hai miền nước ta. Cho nên dù có đưa thêm 25-30 vạn quân vào để đẩy "chiến tranh đặc biệt" lên thành "chiến tranh cục bộ" thì Mỹ cũng không thắng nổi cuộc chiến đấu cứu nước của 14 triệu quân và dân miền Nam, có sự tham gia tích cực và đầy đủ của miền Bắc. Một điều rõ ràng là trước năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam đứng trước nguy cơ bị đè bẹp không gượng lên nổi, thế mà sau đó quần chúng đã vùng dậy được. Từ một nghìn tay súng đến nay ta đã có hàng vạn quân, có thể đánh những trận tiêu diệt cả nghìn quân địch. Nếu Mỹ chuyển sang "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam với 25-30 vạn quân, thì chúng sẽ vấp phải cuộc kháng chiến lâu dài của chúng ta. Chỗ yếu nhất của Mỹ là phải đánh lâu dài. Hầu hết các cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay, chỉ trong khoảng ba, bốn năm chứ không lâu hơn. "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam chỉ mới qua ba, bốn năm, Mỹ đã tỏ ra không thể kéo dài hơn nữa loại chiến tranh này. Do đó, ta có thể nói rằng ở đây, Mỹ không mạnh về quân sự.

Về kinh tế, Mỹ cũng gặp nhiều khó khăn. Trong chiến tranh Triều Tiên, bọn lái súng ở Mỹ thu được mấy tỷ đôla tiền lãi; còn các đế quốc khác chưa phục hồi về kinh tế sau chiến tranh thế giới không đủ sức cạnh tranh với Mỹ. Nhưng từ khi Mỹ sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, thì kinh tế Mỹ bị nguy khốn, vàng dự trữ sụt xuống nhanh chóng. Bọn tư bản đế quốc Nhật Bản, Tây Đức, Anh, Pháp lợi dụng cơ hội này bắt đầu giành giật các thị trường béo bở của Mỹ trên thế giới. Cho nên xét về mặt kinh tế, Mỹ cũng sợ phải tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài. Trái lại, về phía ta, cơ bản vẫn là kinh tế nông nghiệp, chưa có các trung tâm công nghiệp lớn, 80% hàng tiêu dùng do thủ công nghiệp cung ứng; vì vậy chỉ cần cơm no, khoai đủ là ta có thể đánh nhau với Mỹ 5 năm, 10 năm, hoặc lâu hơn nữa. Nói vậy chứ so với thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiềm lực kinh tế của ta ngày nay đã khá hơn nhiều; ta lại được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nên càng vững vàng để kháng chiến lâu dài.

Về chính trị, rõ ràng Mỹ bị cô lập hơn bao giờ hết từ khi chúng đem quân viễn chinh xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trên thế giới đã hình thành mặt trận chống đế quốc Mỹ xâm lược, ủng hộ Việt Nam. Trong khi đó, bọn đế quốc khác mâu thuẫn với Mỹ; nhất là giữa Mỹ và Pháp thì mâu thuẫn ngày càng sâu. Tại hội nghị của khối xâm lược Đông Nam Á (SEATO)35, Pháp và Pakixtan không ủng hộ Mỹ trong chính sách đối với miền Nam Việt Nam. Pháp đang đẩy mạnh hoạt động, tập hợp lực lượng để tìm cách chèn lấn Mỹ. Trong nội bộ bọn cầm quyền Mỹ thì lục đục giữa phe đánh và phe hòa. Nhưng đánh như thế nào, đánh to hay đánh nhỏ, đánh chớp nhoáng hay lâu dài cũng mâu thuẫn. Hòa như thế nào, hòa không điều kiện, rút lui có trật tự hay hòa trên thế mạnh cũng còn bàn cãi. Mâu thuẫn giữa Mỹ và bọn tay sai, mâu thuẫn giữa các nhóm tay sai (giữa tướng tá với nhau, giữa quân sự và dân sự, giữa bọn phản động trong Công giáo và trong Phật giáo) cũng trở nên sâu sắc. Nội bộ địch đang chia năm, xẻ bảy. Như vậy về quân sự, ta chưa hơn địch, nhưng về chính trị thì ta có ưu thế, lại có thể lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch để phân hóa hàng ngũ chúng, làm cho chúng suy yếu đi đến tan rã.

Từ nhận định chỗ mạnh, chỗ yếu của địch như trên, chúng ta hạ quyết tâm đánh Mỹ. Chúng ta tin vào thắng lợi cuối cùng vì nắm chắc các nhân tố sau này:

a) Ý chí quyết đánh, quyết thắng của toàn dân ta từ Nam chí Bắc, từ đảng viên đến quần chúng. Ý chí này bắt nguồn từ truyền thống quật cường của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh lâu dài chống ngoại xâm. Lời hô quyết đánh của các bô lão tại Hội nghị Diên Hồng36 ngay từ đầu đã báo trước và khẳng định chiến thắng của quân dân Đại Việt đối với giặc Nguyên - Mông. Ta thắng Pháp trước đây là nhờ có ý chí quyết đánh, quyết thắng đó. Ngày nay, ta nhất định thắng Mỹ với ý chí sắt đá của toàn dân ta, triệu người như một, quyết giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cho nên, về chính trị và tinh thần, ta đã nắm chắc phần thắng.

b) Sự lãnh đạo của Đảng ta, một Đảng dày dạn trong đấu tranh cách mạng, nắm vững quy luật của chiến tranh nhân dân. Ta thắng Mỹ trước hết là thắng bằng đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, bằng nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị. Mỹ thua ta là thua về sức mạnh và sự khôn ngoan chính trị, thua về chiến lược và chiến thuật quân sự. Hiện nay, nói về sức mạnh quân sự thì đáng chú ý nhất là sức mạnh của chiến tranh nguyên tử và sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Chỗ mạnh của Mỹ là vũ khí nguyên tử thì chúng không dùng được. Còn chỗ mạnh của ta là chiến tranh nhân dân thì Mỹ không có. Phát huy ưu thế này và những kinh nghiệm tích lũy được, chúng ta nhất định đánh thắng bất kỳ tên xâm lược nào, dù đó là đế quốc Mỹ.

c) Sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của anh em bầu bạn trên khắp thế giới. Chiến tranh xâm lược ở miền Nam từng bước được "Mỹ hóa"; chiến tranh phá hoại ở miền Bắc càng tăng cường; đó là một sự thách thức đối với các nước xã hội chủ nghĩa, đối với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong phe ta hiện nay tuy có ý kiến bất đồng về nhiều vấn đề, song, đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta thì các nước anh em, về cơ bản, đều tán thành đường lối của ta và hết lòng giúp đỡ. Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đều đứng về phía nhân dân ta. Các dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của chúng ta.

Tóm lại, chúng ta không đánh giặc đơn độc, sự ủng hộ quốc tế càng làm cho ta tin tưởng và vững vàng chiến đấu. Chúng ta phải sử dụng tốt mọi sự giúp đỡ quý báu đó. Nhưng chúng ta nhất thiết không được ỷ lại; phải nêu cao ý chí tự lực, tự cường; quyết làm lấy sự nghiệp của mình để vinh quang cho đời đời con cháu.

4. Nắm vững phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự

Như trên chúng ta đã nhận định, nếu trước mắt, Mỹ đưa thêm 10-15 vạn quân vào miền Nam thì "chiến tranh đặc biệt", về cơ bản, vẫn chưa thay đổi tính chất, mặc dù nó có thêm một số yếu tố của "chiến tranh cục bộ". Nhìn chung, Mỹ vẫn chưa chuyển hẳn sang chiến lược "chiến tranh cục bộ", và chưa có khả năng mở rộng chiến tranh bằng lục quân ra miền Bắc. Chỗ dựa chủ yếu của Mỹ vẫn là ngụy quân, ngụy quyền; hậu phương của địch vẫn là thành thị. Mỹ còn cần thi hành chính sách lừa bịp để lôi kéo dân chúng, chứ chưa phải đã trắng trợn thi hành chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch theo kiểu của phát xít Hítle. Tuy nhiên, Mỹ đã có một số thay đổi về biện pháp, về sách lược. Trước tình hình vùng nông thôn giải phóng được mở rộng, các đường giao thông chiến lược và các thị trấn, thị xã bị uy hiếp, Mỹ đã tăng cường sử dụng phi pháo và hóa chất độc; đồng thời ngụy quyền cũng tuyên bố không chịu trách nhiệm về những vùng "bất an ninh".

Để đối phó với âm mưu, hành động mới của địch, tiếp tục đánh địch trong vùng chúng kiểm soát và giữ vững vùng giải phóng, chúng ta phải kiên trì phương châm tiến lên bằng "hai chân" (đấu tranh chính trị đi đôi với đấu tranh quân sự) và "ba mũi giáp công" (chính trị, quân sự, binh vận phối hợp). Song, phải vận dụng phương châm đó thích hợp với tình hình mới, nhất là phải biết sử dụng linh hoạt đấu tranh chính trị để tiếp tục phát huy hiệu lực của nó. Đấu tranh chính trị, như chúng ta đã biết, là một vũ khí vô cùng lợi hại trong chiến tranh nhân dân của ta. Trong tình hình hiện nay, tất nhiên phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự; song mặt khác, phải biết sử dụng đấu tranh chính trị đểgiằng co với địch, hạn chế sự tàn bạo của chúng, trong lúc địch đang ráo riết thực hiện phân tuyến rõ ràng giữa vùng ta và vùng chúng kiểm soát, để dễ bề đánh phá vùng giải phóng. Không nên nghĩ rằng trong lúc này chỉ cần xây dựng làng chiến đấu và tăng cường đấu tranh vũ trang, coi đó là biện pháp duy nhất, và đấu tranh chính trị không còn cần thiết nữa, như một số đồng chí ở vài vùng giải phóng đồng bằng đã nhận định một cách vội vã.

Hiện nay, ở đồng bằng, có vùng ta đã giải phóng, nhưng địch còn đóng một số đồn bốt lẻ, ta có thể để yên, chưa cần nhổ đi, mà nên bao vây và để cho dân giữ thế hợp pháp với địch. Dù địch có tuyên bố vùng ta là vùng "bất an ninh", quần chúng vẫn cần giữ thế hợp pháp, coi như còn thừa nhận chính quyền địch một phần nào để duy trì đấu tranh chính trị, phát huy chỗ mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch, buộc chúng phải bảo vệ dân, khơi luồng buôn bán, không được tự do bắn phá, bao vây kinh tế. Đây là nói vùng giải phóng ở đồng bằng, còn đối với vùng rừng núi và giáp ranh thì vấn đề lại khác. Chỉ khi nào sắp tổng công kích, tổng khởi nghĩa thì ta mới công khai mặt đối mặt với địch, không cần giữ thế hợp pháp nữa. Còn bây giờ, nếu ta không sử dụng vũ khí đấu tranh chính trị, để cho địch dùng phi pháo tàn phá vùng giải phóng mà không có cách chống đỡ, thì có thể đến lúc nào đó, quần chúng không chịu nổi sẽ chạy ra vùng địch. Như thế càng khó khăn cho ta hơn. Ở các vùng ven biển đã giải phóng, cũng cần giữ thế hợp pháp, dùng đấu tranh chính trị đòi địch phải để cho thuyền bè ra biển làm ăn, chống những cuộc vây ráp, bắn phá trên biển. Đó cũng là một cách để che giấu việc vận chuyển đường biển của ta.

Chúng tôi nghĩ rằng chỉ cần chúng ta giữ vững phương châm đấu tranh chính trị đi đôi với đấu tranh quân sự, làm cho quần chúng quán triệt việc thực hiện phương châm đó, thì tự quần chúng sẽ sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh, sẽ phát triển đấu tranh chính trị cũng như đấu tranh quân sự lên trình độ cao hơn nữa. Tuyệt nhiên không được coi nhẹ hoặc buông lơi đấu tranh chính trị. Trái lại, phải tìm mọi cách đấu tranh chính trị cho thích hợp hơn, có hiệu lực hơn trong tình hình mới.

Ở thành thị, trong lúc này cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị để giúp sức cho phong trào nông thôn. Phải tìm cách đưa khẩu hiệu "không được bắn giết đồng bào nông thôn" vào các phong trào Phật giáo, học sinh, sinh viên, tiến tới vận động tổ chức các cuộc biểu tình hàng vạn người đòi địch không được bắn bừa bãi vào nhân dân. Nội bộ bọn tay sai có mâu thuẫn, chúng muốn dựa vào nhân dân để lật đổ lẫn nhau. Ta nên lợi dụng tình hình đó, đưa quần chúng ra đấu tranh buộc bọn cầm quyền phải bảo vệ nhân dân. Thí dụ có thể huy động đồng bào Cao đài gặp Phan Khắc Sửu đòi hắn phải ra lệnh không được bắn vào dân thường. Đối với binh sĩ Việt Nam, phải kêu gọi họ không bắn giết bừa bãi người Việt Nam, và vì tự tôn dân tộc mà phản đối Mỹ thả bom, bắn pháo, giết hại đồng bào mình. Để tạo thêm uy lực trong đấu tranh, chúng ta cần đưa một bộ phận quần chúng từ nông thôn ra thành thị, kết hợp với thành thị, phản đối bắn giết bừa bãi. Là nơi tiếp tế lương thực, thực phẩm, rau củi cho các thành thị, vùng nông thôn phải biết sử dụng lợi thế này để làm áp lực với địch.

Để liên hệ và tập hợp quần chúng rộng rãi, ta cần lập ra nhiều tổ chức biến tướng với màu sắc khác nhau. Nếu không liên hệ với nhau bằng một hình thức nào đó thì quần chúng không thể hoạt động; song đưa quần chúng vào những tổ chức đã hình thành rõ ràng thì họ cũng lo sợ, cho nên phải biết tìm ra hình thức thích hợp. Thí dụ, trong phong trào Phật giáo có quyên tiền để cúng lễ, ta nên vận động dành lại một phần để dùng vào các hoạt động tương trợ, cứu tế. Đó là một hình thức để quần chúng liên hệ với nhau, không hội họp nhiều, không hoạt động mang màu sắc chính trị, nên dễ tồn tại hợp pháp, dễ che giấu tai mắt địch. Trái lại, nếu là tổ chức do ta lập ra, dù chỉ là tổ chức tương trợ, địch cũng dễ phát hiện. Địch chủ trương bất kỳ tổ chức nào không do chúng lập ra thì chúng phá (như việc địch phá phong trào hòa bình tự quyết vừa rồi). Vì lẽ đó, ta phải lập nhiều tổ chức biến tướng. Liên hệ với công nhân thì liên hệ từ nơi ở, từ gia đình, chứ không phải chỉ ở xí nghiệp; trong các xí nghiệp, mật thám, gián điệp rất nhiều, khó tổ chức. Với các công đoàn vàng, ta không cần tham gia ban chấp hành bên trên, vì vào đấy dễ bị lộ. Cần có kế hoạch phổ biến rộng rãi báo bí mật của ta, dùng tờ báo để làm sợi dây liên hệ với quần chúng. Người nào xem báo là có liên hệ với ta, không cần hình thành tổ chức. Hoặc lập ra các tổ xem báo địch, nhưng bên trong là xem báo ta. Biết liên hệ với quần chúng, tổ chức quần chúng là một nghệ thuật để từng bước xây dựng đội quân chính trị. Hiện nay, ta phải dùng các tổ chức biến tướng, lợi dụng các phong trào công khai để tránh địch phát hiện, phá hoại. Đối với các tổ chức sẵn có, mang tính chất quần chúng rộng rãi, như phong trào Phật giáo, phong trào học sinh, sinh viên, thì ta nên tìm cách đưa người vào và nắm cho được quần chúng. Đối với những tổ chức trung kiên như Đảng, Đoàn, lực lượng cốt cán thì nên chú trọng chất lượng hơn số lượng, và phải hết sức che giấu để bảo đảm bí mật. Điều quan trọng là các tổ chức trung kiên phải biết lãnh đạo quần chúng, biết đưa ra khẩu hiệu kịp thời, thích hợp để hướng dẫn quần chúng đấu tranh. Còn về tổ chức quần chúng rộng rãi của ta thì gần đến tổng khởi nghĩa, cần đưa quần chúng xuống đường đấu tranh, mới tổ chức cũng được, lập ra sớm quá dễ bị địch phát hiện, khủng bố. Ở thành thị, cần xây dựng tổ chức quần chúng trong các chợ. Trước mắt, nên đưa một số cán bộ phụ nữ vào các chợ làm ăn, vận động quần chúng phụ nữ, qua đó dần dần liên hệ với chồng con của họ. Phần lớn các chợ trong Nam trên bến dưới thuyền, tổ chức được cơ sở ở đây thì ta có thể phát triển các mối liên hệ ngược xuôi với nhiều nơi khác.

Về đấu tranh quân sự, tôi đồng ý những vấn đề cụ thể cho Nam Bộ mà các anh nêu lên. Riêng đối với Khu 5 và Trị - Thiên thì chúng ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Chúng tôi đang cùng Quân ủy trung ương nghiên cứu biện pháp đấu tranh quân sự, nhằm buộc quân Mỹ tiếp tục bị hãm trong thế phòng ngự, hạn chế khả năng phản công của chúng, nghiên cứu các cách đánh để làm giảm tác hại của phi pháo.

Về phương hướng hoạt động quân sự nhằm đánh tiêu diệt và làm tan rã quân chủ lực ngụy, chỗ dựa chủ yếu của Mỹ, thì hiện nay vẫn không thay đổi. Trong thư trước, khi nói đến việc tiêu diệt và làm tan rã hết đợt này đến đợt khác từ 3 đến 4 sư đoàn quân ngụy là tôi muốn nói con số gộp lại, chứ không đặt yêu cầu phải diệt gọn từng sư trong tác chiến. Theo ý các anh, năm nay ta đặt kế hoạch tiêu diệt cho kỳ được từ 3 đến 4 vạn quân chủ lực ngụy, nếu cộng với số đào ngũ, rã ngũ thì số địch bị loại khỏi vòng chiến đấu sẽ lên đến 6 vạn tên. Như vậy, cũng gần đúng với dự kiến nói trên của tôi.

Muốn đánh tiêu diệt và làm tan rã quân địch, nhất là các đơn vị dự bị chiến lược của chúng, ta phải có đủ lực lượng dự trữ chiến lược để đánh những đòn quyết định khi có thời cơ. Để tăng cường lực lượng dự trữ, ta phải chăm lo củng cố hậu phương vững mạnh, phải làm tốt công tác thanh niên, công tác vận động tòng quân trong vùng ta; đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh chống bắt lính trong vùng địch, làm cho chúng không kịp bổ sung quân số. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trước đây, ta thắng rất oanh liệt, nhưng không phát huy được triệt để thắng lợi của chiến dịch là do ta không còn lực lượng dự trữ chiến lược. Về phía Pháp, bọn  chúng cũng thừa nhận sai lầm là đã mở cùng một lúc hai chiến dịch: Điện Biên Phủ và Át Lăng, đã tung ra hết lực lượng dự trữ, nên phải chuốc lấy thất bại nặng nề cả ở ngoài Bắc lẫn trong Nam. Hiện nay, ta vừa phải chuẩn bị đầy đủ lực lượng dự trữ chiến lược, vừa phải mở nhiều mặt trận để phân tán địch, nhử địch ra vùng rừng núi để dễ tiêu diệt chúng. Lực lượng dự trữ của địch không chỉ là các đơn vị bộ binh cơ động mà còn bao gồm cả phi pháo, cho nên ta cần phát triển lực lượng và nâng cao chất lượng bộ đội đặc công, đánh vào các sân bay, các trận địa pháo, các kho bom đạn, xăng dầu, trừng trị địch ngay tại căn cứ trước khi chúng hành động. Đó cũng là biện pháp quân sự quan trọng chống địch bắn phá vừa bãi vào nhân dân.

5. Một số vấn đề về khởi nghĩa: Trong thư trước, tôi đã phác qua kế hoạch về hoạt động quân sự, chính trị cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Ở đây, tôi trả lời thêm về một số ý mà các anh đã nêu lên. Về khởi nghĩa: để giành thắng lợi, chúng ta phải tính toán chu đáo, chuẩn bị kỹ càng, hành động kiên quyết và chắc chắn. Nhưng tôi muốn nói là nếu vì những nguyên nhân không dự tính hết mà khởi nghĩa nửa chừng gặp khó khăn, ta có phải rút lực lượng ra ngoài thì cũng không sao; đấy là một dịp để rút kinh nghiệm, chuẩn bị làm lần khác. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta bỏ qua lời dạy của Lênin viết trong Ý kiến của người vắng mặt"Không bao giờ được đùa với khởi nghĩa cả, và một khi đã bắt đầu khởi nghĩa thì cần nắm chắc một điều là phải tiến hành đến cùng". Song tình hình nước ta hiện nay có khác với tình hình nước Nga lúc Lênin và Đảng bônsêvích chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Khi quyết định khởi nghĩa có những nhân tố Lênin đã nắm chắc, nhưng cũng còn những nhân tố Lênin chỉ nắm một phần, hoặc chưa nắm được. Đối với lực lượng vũ trang, nhân tố quan trọng nhất, mà Lênin nắm chắc là quân đội một số nơi ủng hộ những người bônsêvích (như ở Phần Lan, Mátxcơva và Hạm đội Ban Tích). Nhưng còn nhiều nơi thì Lênin chỉ mới biết là quân đội không tuân lệnh của chính phủ lâm thời Kêrenxki. Trong tình hình đó, khởi nghĩa phải tiến hành đến cùng; phải có quyết tâm cao giành lấy thắng lợi quyết định. Còn nếu không, nửa chừng mà phải rút lui, ví thử Cách mạng Tháng Mười thất bại, thì cách mạng sẽ bị dìm trong bể máu, quần chúng sẽ bị khủng bố ác liệt, dữ dội hơn cả dưới thời Xtôlưpin sau thất bại của cách mạng năm 1905. Còn hiện nay thì ta có quân đội mạnh, đang trên đà chiến thắng, cộng thêm đội quân chính trị của quần chúng đã được rèn luyện trong đấu tranh; có căn cứ địa rừng núi và nông thôn đồng bằng làm chỗ dựa cho phong trào thành thị. Vì vậy, nếu khởi nghĩa không thành công thì ta vẫn có thể rút ra mà không sợ bị tổn thất nặng; các đơn vị vũ trang và lực lượng nòng cốt của đội quân chính trị vẫn được bảo tồn để chuẩn bị làm lần khác. Có nhận thấy như vậy, chúng ta mới linh hoạt trong việc nắm thời cơ, phát động khởi nghĩa. Khi thời cơ đã có, dù các nhân tố bảo đảm thắng lợi chỉ được bảy, tám phần mười, chúng ta cũng phải nắm lấy và phát động khởi nghĩa, chứ không cầu toàn, chờ cho đủ mười mươi. Tất nhiên, chúng ta phải chuẩn bị thật đầy đủ, thật chu đáo, dự kiến mọi tình huống để đối phó thì khi quyết định khởi nghĩa, ngay từ đầu, ta đã tạo được nhiều hơn những nhân tố bảo đảm thắng lợi.

Trong thư trước, tôi có dự kiến khả năng dùng đấu tranh chính trị đòi thành lập ở Sài Gòn một chính phủ khác chủ trương chấm dứt chiến tranh, thương lượng với Mặt trận. Hiện nay điều đó không cần thiết, vì Mỹ đã và đang đưa quân viễn chinh vào miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, hòng tìm thế mạnh cho một giải pháp chính trị. Chính Mỹ và tay sai hiện nay đang mong muốn "đàm phán không điều kiện", để cứu ngụy quân, ngụy quyền khỏi tan rã, giữ miền Nam trung lập theo kiểu Lào. Trong tình hình đó, chúng ta phải đánh mạnh, đánh trúng hơn nữa, chứ chưa phải lúc nói thương lượng, đàm phán. Quyết tâm đó đã được nói rõ trong Tuyên bố của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và được nêu lên trong báo cáo của Chính phủ ta tại kỳ họp Quốc hội vừa rồi. Lập trường cứng rắn mà trong đó cũng như ngoài này đã biểu thị là hoàn toàn đúng. Nhưng không phải chúng ta không biết mềm dẻo. Bốn điều kiện nêu trong báo cáo của đồng chí Phạm Văn Đồng là hết sức mềm dẻo, nhằm mở đường cho Mỹ rút lui mà đỡ mất thể diện. Vì những điều kiện đó so với các điều khoản chính trị trong Hiệp nghị Giơnevơ là một bước lùi. Hiệp nghị Giơnevơ quy định sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử trong cả nước để thống nhất Tổ quốc; thế mà nay, sau mười năm chiến đấu, chúng ta chỉ đòi Mỹ rút quân khỏi miền Nam, chấm dứt bắn phá miền Bắc, vấn đề Việt Nam do người Việt Nam tự giải quyết. Ta đã mở đường cho Mỹ rút lui. Nhưng do bản chất xâm lược, hiếu chiến, Mỹ vẫn ngoan cố bám lấy miền Nam, chúng ta phải quyết tâm đánh đến cùng, tạo điều kiện thuận lợi để tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định.

Chỉ khi nào khởi nghĩa thành công thì việc lập một chính quyền trung ương trung lập mới đặt ra lại. Thành phần chính quyền đó sẽ rộng rãi, có thể có những người thân Pháp và cả những người phần nào thân Mỹ; giống như sau Khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, trong chính quyền trung ương của ta có cả bọn "Việt cách", "Việt quốc". Nhưng lúc bấy giờ, do mới giành được chính quyền, còn nhiều mặt yếu, ta phải có những nhượng bộ nhất định. Còn bây giờ chính quyền trung lập do ta chủ động điều khiển; chính quyền bên dưới ta nắm hoàn toàn; chính quyền trung ương tuy có nhiều thành phần, song ta phải nắm giữ các vị trí then chốt như quốc phòng, công an, ngoại giao. Chính quyền trung ương trung lập đó làm như không dính dáng gì với Mặt trận dân tộc giải phóng, với miền Bắc, sẽ đề ra yêu cầu thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng để đình chỉ chiến tranh, yêu cầu Mỹ rút quân, yêu cầu triệu tập lại Hội nghị Giơnevơ để bàn vấn đề bảo đảm hòa bình, trung lập ở miền Nam. Lập một chính quyền trung lập như thế sẽ tạo điều kiện cho Mỹ dễ chấp nhận hơn việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Các anh thân mến,

Nếu chúng ta biết nắm thời cơ, ra sức đẩy nhanh quá trình tan rã của quân ngụy, tiến đến tổng công kích, tổng khởi nghĩa, thì ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất khả năng Mỹ đưa thêm quân vào, chuyển hẳn "chiến tranh đặc biệt" thành "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, hoặc mở rộng chiến tranh bằng lục quân ra miền Bắc. Nhưng nếu Mỹ vẫn liều lĩnh, muốn đọ sức với dân tộc Việt Nam trong một cuộc chiến tranh lâu dài, thì chúng ta sẵn sàng chiến đấu, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ trong bất cứ loại chiến tranh nào.

Ngoài này, chúng tôi đã chuẩn bị để đối phó với tình huống xấu nhất; các nước anh em cũng sẵn sàng chi viện cho chúng ta. Nếu Mỹ cả gan đưa lục quân ra miền Bắc thì ngoài này cũng đánh thắng. Dù phải hy sinh hàng chục vạn người, dù Hà Nội có tan nát đi nữa thì miền Bắc cũng sát cánh cùng miền Nam quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Miền Bắc ngày đêm đang ra sức sản xuất và chiến đấu, chăm lo xây dựng lực lượng dự trữ chiến lược, sẵn sàng chi viện cho miền Nam một cách đầy đủ, kịp thời. Chúng tôi không những chỉ chuẩn bị đáp ứng nhu cầu quốc phòng trước mắt, mà còn chuẩn bị cơ sở vật chất - kỹ thuật để bắt tay xây dựng lại đất nước sau khi kết thúc chiến tranh.

Năm 1957, trước khi ra Bắc, tôi đã ước lượng sơ bộ có khoảng bốn, năm vạn người ở Sài Gòn sẵn sàng đấu tranh sống chết với địch. Lực lượng đó bây giờ có thể phát triển hơn để làm nòng cốt cho đội quân chính trị quần chúng sẵn sàng khởi nghĩa. Chúng ta có đội quân chính trị hùng hậu; có lực lượng vũ trang mạnh mẽ, thiện chiến; có lực lượng dự trữ chiến lược dồi dào. Chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, nắm vững thời cơ, chúng ta có thể tiến đến tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Chào tin tưởng và quyết thắng.
BA

Lê Duẩn: Thư vào Nam,

Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 94 - 114.