Hội nghị Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông - châu Phi năm 2019. Nguồn: VTV

Ngày 9/9, tại Hà Nội, Hội nghị Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông - châu Phi năm 2019 đã chính thức khai mạc.

Hội nghị Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông - châu Phi năm 2019 nhằm triển khai Đề án Phát triển quan hệ Việt Nam với các nước Trung Đông - châu Phi giai đoạn 2016 - 2025, duy trì và phát huy đà hợp tác với khu vực.

Hội nghị nhằm chủ động thiết lập và củng cố kênh liên lạc thường xuyên và hiệu quả hơn giữa các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp của Việt Nam với các Đại sứ quán khu vực Trung Đông - châu Phi, nhất là các Đại sứ quán kiêm nhiệm Việt Nam. Tranh thủ tốt hơn vai trò của các Đại sứ quán các nước khu vực Trung Đông - châu Phi trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai bên, nhất là về kinh tế.

Hội nghị Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông - châu Phi năm 2019 có sự tham dự của 44 đại diện, đại biện các quốc gia Trung Đông – châu Phi, Trưởng Cơ quan đại diện ngoại giao thường trú và không thường trú, Lãnh sự danh dự của các quốc gia Trung Đông - châu Phi tại Việt Nam; đại diện một số đối tác phát triển, tổ chức quốc tế lớn (Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Liên minh châu Âu, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ, JICA…); nhiều Bộ, ngành, địa phương của Việt Nam cùng nhiều doanh nghiệp hai bên.



Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường phát biểu khai mạc

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường gửi lời cảm ơn tới các vị đại biểu cùng cộng đồng doanh nghiệp hai bên đến tham dự buổi Hội nghị “Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông – châu Phi năm 2019”. Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường đánh giá, vượt qua sự xa cách về địa lý, sự khác biệt về văn hóa và rào cản ngôn ngữ, Việt Nam và các quốc gia Trung Đông – châu Phi có mối quan hệ hữu nghị truyền thống. Nhiều quốc gia trong khu vực Trung Đông – châu Phi luôn ủng hộ Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Đó chính là sự ủng hộ hữu nghị giữa Việt Nam và các quốc gia Trung Đông – châu Phi. Sau này, hai bên thể hiện sự quyết tâm cùng nhau chia sẻ, hỗ trợ và phát triển thông qua sự hợp tác về kinh tế, thương mại, đã tạo nên thành quả tích cực. Thời gian qua có hơn 200 văn kiện giữa hai bên được kí kết, tạo khung pháp lý thuận lợi cho sự hợp tác nhiều mặt. Về thương mại, từ năm 2010 đến nay kim ngạch trao đổi hai chiều giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông – châu Phi đã tăng 3,5 lần, từ 5 tỷ USD lên 18 tỷ USD.

Trong thời gian vừa qua, hoạt động đầu tư nước ngoài của doanh nghiệp hai bên cũng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, đạt trên 5,5 tỷ USD. Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường nêu bật các điểm sáng hợp tác như: các dự án đầu tư viễn thông từ Việt Nam sang châu Phi giúp người dân nơi đây tiếp cận các dịch vụ viễn thông và mở rộng cơ hội kết nối số toàn cầu. Hợp tác nông nghiệp, năng lượng, giao thông, lao động và trao đổi chuyên gia cũng là điểm sáng giữa Việt Nam và các nước khu vực. Những kết quả đó góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam và các quốc gia Trung Đông – châu Phi, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước.

Thông báo với các đại biểu đến từ Trung Đông - châu Phi, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường cho biết, sau hơn 30 năm kiên trì đổi mới, Việt Nam đã vươn lên từ một quốc gia nghèo đói, kém phát triển trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, có dân số trên 100 triệu người. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cả thời kỳ đạt gần 7% mỗi năm, cao hơn mức trung bình khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cả thời kì đạt gần 7% mỗi năm, cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Kim ngạch xuất nhập khẩu được duy trì liên tục ở mức 2 con số và đạt mức kỉ lục 480 tỷ USD vào năm 2018.

Nêu bật những thành tựu kinh tế của Việt Nam, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường cho biết, Việt Nam đã thu hút được 340 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp (FDI) cam kết từ 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế cũng được triển khai sâu rộng với mạng lưới 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới quan trọng, như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Khẳng định, Việt Nam là một người bạn chung thuỷ và một đối tác có trách nhiệm trong hợp tác kinh tế, và chính trị với nhiều đối tác trong khu vực Trung Đông – châu Phi. "Chúng tôi đều có những quan hệ chính trị tốt đẹp, tuy nhiên những kết quả của hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế - quan hệ chính trị tốt đẹp và mong muốn của người dân", Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường nhấn mạnh. Trong bối cảnh quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông – châu Phi chưa tương xứng với tiềm năng, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường cho biết, tỉ trọng trao đổi thương mại giữa Việt Nam với khu vực rộng lớn gồm 70 quốc gia với 1.6 tỉ dân trải dài trên 36 triệu km vuông hiện chỉ chiếm 3,5% trên tổng số 480 tỉ USD xuất khẩu hàng hoá Việt Nam trong năm 2018. “Con số này khá khiêm tốn so với tốc độ tăng trưởng và quy mô kinh tế và dân số của cả hai bên, cho thấy chúng ta còn phải làm nhiều hơn nữa, quyết liệt hơn nữa và hiệu quả hơn nữa,” Thứ trưởng Nguyễn Quốc Cường khẳng định.

Chia sẻ về những thành tựu chính trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam (đổi mới), Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế, Bộ Ngoại giao Nguyễn Hoài Nam cho rằng, cải cách cơ bản được gọi là “Đổi Mới” trong 1986 đã biến đổi Việt Nam từ nền kinh tế khép kín thành một quốc gia có thu nhập trung bình với tốc độ tăng trưởng GDP nhanh chóng, một trong những nền kinh tế năng động nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.

Theo ông Nguyễn Hoài Nam, kinh tế Việt Nam đã có những bước vươn lên đáng kể, tăng năng suất tổng hợp của nền kinh tế. Năm 2018, sự đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cho tăng trưởng GDP đạt 43,50%, trung bình 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức trung bình của 33,58% trong giai đoạn 2011-2015. Đây là những chuyển biến tích cực về chất lượng tăng trưởng Việt Nam.

Bên cạnh đó, về cơ cấu, kinh tế Việt Nam đã chuyển dịch theo hướng hiện đại, dựa theo chỉ số ICOR cho thấy, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Chỉ số ICOR giảm từ 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018, trong khi mức trung bình của tỷ lệ ICOR 2016-2018 là 6,17, thấp hơn 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

Ngoài chuyển dịch về ngành, còn có chuyển dịch về cơ cấu lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng, đạt khoảng 40% tổng nguồn lao động của xã hội. Các ngành dịch vụ, công nghiệp, chế tạo cũng đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế chung của nền kinh tế.

Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế, Bộ Ngoại giao Nguyễn Hoài Nam khẳng định, hội nhập kinh tế là một trong những điểm sáng của Việt Nam trong thời gian qua, với 30 năm chứng kiến chặng đường hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng về nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức và theo các nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Trong tiến trình đó, tăng trưởng xuất khẩu tại Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tương đối mạnh mẽ trong năm 2018, mặc dù phải đối mặt với sự không chắc chắn bởi thương mại toàn cầu. Tổng khối lượng giao dịch của Việt Nam đạt 482 tỷ USD. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được những thành tựu ấn tượng trong một số lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, giáo dục, phổ cập Internet, y tế... Đặc biệt, trong hai thập kỷ qua, Việt Nam cũng được đánh giá là quốc gia có sự phát triển vượt bậc về phát triển con người.

Phó Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế, Bộ Ngoại giao Nguyễn Hoài Nam cho biết, trong thời gian tới, Việt Nam chú trọng thực hiện hai mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội. Về lĩnh vực kinh tế, Việt Nam hướng tới GDP tăng trưởng 6,5-7% hàng năm, GDP bình quân đầu người đạt 3.200-3.500 USD/năm. Trong đó, tỉ trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ chiếm 85%, đầu tư xã hội chiếm 32-34% và năng suất yếu tố tổng hợp đạt 30-35%. Về mục tiêu phát triển xã hội, từ nay đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống dưới 4%, hoàn thiện hệ thống cơ sở - vật chất y tế và chăm sóc sức khoẻ trên khắp cả nước.

Nói về một số định hướng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách đối ngoại Vũ Duy Thành cho rằng, chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ. Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiên cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đang tiếp tục phát triển, làm sâu sắc hơn các mối quan hệ từ các nước láng giềng lân cận như Lào, Campuchia, Trung Quốc; 16 đối tác chiến lược là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Anh, Đức, Pháp, Italy, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippines, Australia; 14 đối tác toàn diện bao gồm Argentina, Brazil, Brunei, Canada, Chile, Đan Mạch, Hà Lan, Hungary, Myanmar, New Zealand, Nam Phi, Mỹ và Venezuele; Đặc biệt, khu vực Trung Đông - châu Phi là đối tác truyền thống của Việt Nam.

Đối với khu vực Trung Đông – châu Phi, hiện tại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 69/70 nước trong khu vực. Tuy nhiên, mạng lưới Cơ quan Đại diện Việt Nam tại khu vực cũng như các nước khu vực tại Việt Nam còn mỏng (Việt Nam có Đại sứ quán tại 15 nước, trong khi đó, 17 nước khu vực có Đại sứ quán thường trú, 5 nước có Lãnh sự danh dự tại Việt Nam). Theo ông Vũ Duy Thành, Đại sứ quán là kênh liên lạc chính thức quan trọng, góp phần thúc đẩy đáng kể hợp tác nhiều mặt giữa hai bên, nhất là về kinh tế.

Nói về sự ưu tiên và định hướng chính sách đối ngoại giữa Việt Nam và các quốc gia khu vực Trung Đông – châu Phi, ông Vũ Duy Thành nhấn mạnh, Việt Nam cần phải làm sâu sắc thêm quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các nước láng giếng, các cường quốc và bạn bè truyền thống ở Trung Đông – châu Phi; chủ động hội nhập quốc tế; thúc đẩy ngoại giao quốc gia, đặc biệt là trong năm chủ nhà ASEAN 2020 và tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong giai đoạn 2020 – 2021 và đóng góp nhiều hơn để giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu.



Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh phát biểu tại Hội nghị, 

Trong khuôn khổ Hội nghị “Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông-châu Phi năm 2019”, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh đã tới dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết: Sau hơn 30 năm kiên định con đường đổi mới toàn diện, Việt Nam đã vươn lên từ tình trạng kém phát triển trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, duy trì ổn định chính trị, xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 nước, hình thành mạng lưới 30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; trong đó có tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nước thông qua 16 hiệp định thương mại tự do bao gồm các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh châu Âu (EVFTA)... Việt Nam cũng khẳng định vai trò là thành viên tích cực có trách nhiệm tại các cơ chế khu vực và quốc tế quan trọng.

Theo Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, đối với Việt Nam, quan hệ với các nước Trung Đông - châu Phi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt. Khởi nguồn từ khát vọng chung về độc lập, tự do từ những năm 50 của thế kỷ XX, mối quan hệ này không ngừng được vun đắp bằng những tình cảm tốt đẹp và sự ủng hộ giúp đỡ chân tình, quý báu mà Việt Nam và các nước Trung Đông - châu Phi dành cho nhau trong thời kỳ đấu tranh chính nghĩa. Bước sang giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam cùng các nước Trung Đông - châu Phi tiếp tục cùng nhau giải quyết các thách thức chung, nỗ lực mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước; đồng thời bảo vệ những lợi ích chung của các quốc gia đang phát triển trong cộng đồng quốc tế. Đây chính là nền tảng và giá trị vững chắc đưa Việt Nam và nhiều nước trong khu vực Trung Đông  -châu Phi trở thành những người bạn thủy chung son sắt và những đối tác quan trọng của nhau. Điều này thể hiện qua tiến trình hợp tác ngày càng được củng cố; quan hệ ngoại giao ngày càng đi vào chiều sâu; quan hệ thương mại phát triển tích cực, hợp tác viễn thông, lao động, giáo dục, y tế có nhiều bước tiến mới. Mô hình hợp tác của Việt Nam với một số nước châu Phi, nhất là về nông nghiệp, từng được coi là hình mẫu cho hợp tác NAM-NAM.

“Trên bình diện đa phương, Việt Nam luôn đồng hành với các nước Trung Đông - châu Phi trong việc bảo vệ những giá trị cốt lõi vì hòa bình và phát triển, đề cao các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế như tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực. Những người lính Cụ Hồ của Việt Nam đã có mặt tại những điểm nóng của Cộng hòa Trung Phi, Nam Sudan, đóng góp vào nỗ lực duy trì hòa bình của Liên hợp quốc. Việt Nam và các nước Trung Đông - châu Phi cũng tích cực phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế”, Phó Thủ tướng khẳng định.

Đánh giá tiềm năng và nhu cầu hợp tác giữa Việt Nam và khu vực Trung Đông - châu Phi còn rất lớn và đa dạng, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho rằng trong một thế giới chuyển động nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp và khó lường, khu vực Trung Đông - châu Phi đang nỗ lực vượt qua những thách thức về an ninh, phát triển, kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình trong giải quyết các bất đồng xung đột, đề cao hợp tác và hội nhập; phát huy các lợi thế địa chiến lược, địa kinh tế để vươn lên. Về phần mình, Việt Nam là thành viên cộng đồng ASEAN nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, đang hướng tới tầm nhìn 2030 về xây dựng một xã hội thịnh vượng, nền kinh tế phát triển mạnh dựa trên tri thức, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu.

“Chúng tôi tin tưởng có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của các nước Trung Đông - châu Phi, đặc biệt khi đảm nhận hai trọng trách: Chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Việt Nam có thể là cầu nối để thúc đẩy các nội dung hợp tác cùng quan tâm trong khuôn khổ ASEAN; tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh khu vực và thế giới, trong đó có nhiều vấn đề ở khu vực Trung Đông - châu Phi; cùng chia sẻ khát vọng hòa bình hướng tới mục tiêu Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, tận dụng cơ hội của Cách mạng công nghiệp 4.0; sự tương đồng về trình độ phát triển và nền kinh tế có tính bổ trợ cao. Hai bên có những lợi thế lớn để thúc đẩy hợp tác toàn diện, nhất là trong các lĩnh vực giàu tiềm năng như: thương mại, đầu tư, năng lượng, môi trường, công nghệ thông tin, truyền thông, nông nghiệp, lao động, du lịch...”, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng đề nghị các đại biểu dự Hội nghị cần đi sâu trao đổi một số hướng chính trong hợp tác giữa hai bên. Đó là, các biện pháp phát huy quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa Việt Nam và các nước Trung Đông – châu Phi trên tất cả các lĩnh vực. Đồng thời, Hội nghị tìm hướng mới, thực chất, hiệu quả để biến sự tin cậy chính trị, quan hệ hữu nghị truyền thống thành kết quả hợp tác cụ thể. Cùng với đó, các bên chú trọng hợp tác kinh tế, xác định kinh tế là đòn bẩy trong quan hệ chính trị.

Phó Thủ tướng đề nghị các vị đại sứ, đại biện cùng trao đổi kỹ với các đối tác Việt Nam, đặc biệt là đại diện các doanh nghiệp xác định những lĩnh vực nhiều tiềm năng, có tính khả thi cao để thúc đẩy hợp tác. Với Việt Nam, Phó Thủ tướng cho rằng đó là nông, thủy sản, điện tử, cơ khí nông cụ, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ, sản xuất chế biến nông sản. Ngoài ra, Việt Nam cũng sẵn sàng hỗ trợ đào tạo nghề, liên kết tìm giải pháp số, phục vụ phát triển nông nghiệp. Việt Nam cũng có thế mạnh trong công nghệ thông tin và truyền thông, cung cấp nguồn nhân lực trẻ có trình độ.

 Về phía các nước Trung Đông –châu Phi, Phó Thủ tướng cho rằng các nước khu vực này có những thế mạnh mà Việt Nam mong muốn tiếp tục tăng cường hợp tác. Đó là: vốn đầu tư, năng lượng, hợp tác lao động, hợp tác cung cấp nguyên, nhiên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến,sản xuất nông công nghiệp.

Phó Thủ tướng cũng đề nghị các bên cần đổi mới tư duy và phương thức hợp tác để thích ứng với sự phát triển và đòi hỏi của tình hình mới, huy động sự tham gia không chỉ của Nhà nước mà cả khu vực tư nhân, doanh nghiệp, người dân, các đối tác phát triển ngoài khu vực. Cùng với đó, các bên cần rà soát nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ chế hợp tác, trong đó có cơ chế phối hợp để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, tận dụng các cơ hội, tạo thuận lợi cho việc tăng cường hợp tác. Đặc biệt, cần đẩy mạnh kết nối và phát huy vai trò mạng lưới các đại sứ và cơ quan đại diện Trung Đông - châu Phi trong thúc đẩy và đôn đốc các chương trình, kế hoạch hợp tác. Bên cạnh kênh song phương, hai bên cần tăng cường phối hợp trên các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, phong trào không liên kết, từ đó thúc đẩy kết nối giữa Việt Nam và Liên minh châu Phi, giữa các nước Trung Đông - châu Phi với các tổ chức ở khu vực ASEAN.

Tin tưởng Hội nghị là diễn đàn thảo luận thực chất về các biện pháp thúc đẩy hợp tác kinh tế và hợp tác chuyên ngành giữa Việt Nam với các nước Trung Đông - châu Phi, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh mong muốn các đại biểu tận dụng hiệu quả Hội nghị để cùng tìm ra giải pháp, bước đi mới nhằm đưa quan hệ Việt Nam và các nước Trung Đông - châu Phi ngày càng phát triển sâu sắc, thiết thực và hiệu quả trong những năm tới.

Các đại biểu dự Phiên hợp tác kinh tế trong khuôn khổ Hội nghị "Gặp mặt Đại sứ các nước Trung Đông - châu Phi năm 2019" đã cùng nhau thảo luận nhiều nội dung nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác kinh tế, thương mại trên nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước Trung Đông -châu Phi./.

Minh Anh