TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
(Ảnh: T.L)

 

Phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội về vấn đề đổi mới tư duy trong sản xuất nông nghiệp.

Phóng viên (PV): Sau hơn 30 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước tiến vượt bậc so với thời kỳ sản xuất tập trung bao cấp. Ông có thể cho biết nhận xét của riêng mình về nền nông nghiệp nước ta hiện nay?

TS Nguyễn Đức Kiên: Đến thời điểm hiện nay, nông nghiệp nước ta gần như tuyệt đại đa số là đất của các hộ kinh doanh cá thể. Theo số liệu điều tra cập nhật, 90% đất nông nghiệp đã chia cho hộ nông dân, 6% là thuộc đất doanh nghiệp. Trong đó, theo số liệu công bố năm 2011, có tới 35% số hộ nông dân Việt Nam có diện tích đất sản xuất rất nhỏ, dưới 6 sào bắc bộ (chưa được 2.000 m2). Với thực trạng về nền sản xuất đất nông nghiệp phân bổ đất như thế thì nông dân của chúng ta gần như không có khả năng tiếp cận đến một nền công nghiệp sản xuất lớn, theo hướng hiện đại.

Hiện nay trong quá trình phát triển, khi chúng ta thống nhất xây dựng nền kinh tế thị trướng định hướng XHCN thì nhiệm vụ của nhà nước là tạo điều kiện bình đẳng cho mọi người có cùng điều kiện tiếp cận thị trường và thành bại ở trong thị trường là do từng doanh nghiệp nỗ lực mà có. Từ tháng 6/2016 đến nay rộ lên vấn đề khởi nghiệp và chúng ta phải hiểu được doanh nghiệp khởi nghiệp bắt đầu từ đâu. Trong công nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp có thể bắt nguồn từ ý tưởng, bắt nguồn từ việc có vốn, tuy nhiên, nếu chỉ có vốn mà không có ý tưởng, hay chỉ có sức lao động mà không có ý tưởng thì cũng không thành lập được doanh nghiệp khởi nghiệp. Ý tưởng chính là khởi nguồn, là điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ.

Nhìn vào thực trạng khu vực nông thôn của chúng ta hiện nay tuyệt đại đa số nông dân Việt Nam là kinh tế nhỏ, hộ gia đình. Từ khi thực hiện nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về khoán sản phẩm trong nông nghiệp, chúng ta chia đất đai ở miền Bắc theo nguyên tắc bình đẳng, chia ruộng cho hộ dân có đồng gần đồng xa, có ruộng xấu ruộng tốt, nên dẫn tới tình trạng từ Quảng Bình trở ra, 1 hộ nông dân sẽ có từ 5-6 mảnh ruộng. Trong thời gian vừa qua, khi phát hiện những bất cập này, chúng ta đã thực hiện nhiều phương án để giải quyết như “dồn điền đổi thửa” ở miền Bắc, “cánh đồng mẫu lớn” ở miền Nam để tập trung ruộng đất, nhưng tính ra bình quân vẫn chỉ là 2,6 mảnh/1 hộ, cùng với khả năng tích tụ của người nông dân là rất thấp.

Cho tới thời điểm này, chúng ta vẫn chưa làm cuộc cách mạng công nghiệp trong nông nghiệp thực sự mà chúng ta đang trong quá trình làm lại hợp tác xã của những năm 58 – 60 của thế kỷ trước, bởi cho tới thời điểm này lực lượng sản xuất đã thay đổi nhưng quan hệ sản xuất còn chưa thay đổi. Chúng ta cũng cần xác định rằng thực hiện công nghiệp hóa nông thôn là đem tư duy công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, cho người nông dân ở nông thôn, chứ không phải cứ mang máy móc vào sản xuất đã là công nghiệp hóa. Chúng ta cần đem quan hệ sản xuất, tư duy sản xuất công nghiệp vào nông nghiệp như vậy mới bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng với người nông dân, mới có tiếng nói bình đẳng, để làm đối trọng với thực thể nhà đầu tư ngân hàng.

PV: Vậy ông có thể nói rõ vai trò của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với mục tiêu đổi mới nông nghiệp?

TS Nguyễn Đức Kiên: Nếu chúng ta nhìn nhận các tổ chức tín dụng cho vay là một loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp, thì việc các quỹ tín dụng nhân dân, NHTM cổ phần nâng cao chuẩn vay, trong đó có tài sản thế chấp là bình thường trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta phải thấy rằng vấn đề ở đây là người nông dân nếu chỉ sản xuất theo từng hộ 1 đi vay ngân hàng là rất khó vì tài sản thế chấp của họ gần như không có, phương thức sản xuất không thể áp dụng công nghệ vì diện tích ruộng đất nhỏ, sản xuất lúa hay bất cứ cây gì đều rất khó khăn và quan trọng hơn cả là ý tưởng mới về sản xuất nông nghiệp không có.

Trong thời gian vừa qua, khi đi kiểm tra các hộ nông dân làm nông thôn mới, chúng tôi đã phát hiện những điều rất thú vị. Ngay ở Sơn La - 1 tỉnh miền núi phía Bắc, tỉ lệ đất nông nghiệp sản xuất lúa là rất nhỏ, người ta đã chuyển sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả rất hiệu quả. Có hộ thu nhập trung bình mỗi năm là 800 triệu đến 1 tỷ đồng trên 5 ha diện tích, và chỉ cần 3 lao động trong hộ gia đình. Để làm được điều này, trước hết họ tích tụ được ruộng đất, để có đất tập trung trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò, trồng cam, cây ăn quả, trồng thanh long và đặc biệt áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt nhập từ Isarel.

Như vậy họ gần như không phải đi vay tiền của ngân hàng để hoạt động, họ chỉ vay đúng năm đầu tiên là để nhập hệ thống tới nhỏ giọt khoảng 60 triệu và vay nhập đàn bò, giống cỏ. Tính ra, sau 1 năm họ đã trả được tiền vay nhập công nghệ tưới, sau 3 năm trả được tiền đàn bò, đó là ưu điểm của sản xuất tập trung.

Quay trở lại với bài toán nông nghiệp hiện nay, nếu chỉ nhìn vào bài toán thế chấp của người nông dân để đi vào tìm hướng giải quyết khó khăn trong tiếp cận tín dụng hiện nay là bất hợp lý. Chúng ta không thể hay đúng hơn là không có quyền đòi hỏi TCTD hay ngân hàng hạ chuẩn cho vay với nông dân, mà TCTD chỉ có thể điều chỉnh thời gian cho vay theo chu kỳ phát triển nông nghiệp.

Cần làm rõ điều này để tránh cách hiểu sai lầm rằng là Ngân hàng nhà nước hay Nhà nước phải hỗ trợ cho nông dân vay. Chúng ta nên đặt vấn đề là người nông dân phải có ý tưởng mới trong sản xuất nông nghiệp, cần thực hiện liên kết lại với nhau để hình thành những diện tích đất lớn nhằm thực hiện sản xuất theo quy mô công nghiệp, áp dụng được khoa học công nghệ.

Một ví dụ điển hình ở Kiến An hay An Lão, Hải Phòng, nhiều doanh nghiệp ở thành phố đã về nông thôn thuê đất của người nông dân để trồng ớt xuất khẩu. Yêu cầu họ đặt ra là tập hợp được trên 30 ha đất tập trung, sau đó họ thuê và đưa vào sử dụng sản xuất. Cùng với đó, họ thuê luôn người nông dân làm công nhân nông nghiệp trên mảnh đất đó với mức tiền công trung bình 100.000 đồng/ngày thường, 150.000 đồng/ngày vụ mùa. Vậy là ngoài tiền cho thuê đất, nông dân còn được trả lương cho công việc hằng ngày là chăm sóc ớt trên mảnh ruộng của mình. Những người nông dân riêng lẻ đã không còn phải đối mặt với việc gồng mình lên để đi vay sản xuất nông nghiệp.

Vì thế muốn giải quyết được vấn đề tín dụng cho nông dân, cần phải tập thể hóa trong nông nghiệp và đó là trách nhiệm của hội nông dân, chính quyền. Các tổ chức này cần tuyên truyền cho người nông dân hiểu và đưa ra phương án hợp lý để giúp họ. Nếu chúng ta không đưa ra được phương án kinh doanh theo công nghiệp vào nông nghiệp với từng hộ nông dân cá thể, sẽ lặp lại bài toán nông dân không tiếp cận được công nghệ, sản xuất đình đốn và có thể nông dân lại bỏ ruộng hoang như ở Thái Bình.

PV: Trước những thực tế trên, theo ông, để tích tụ ruộng đất được hiệu quả thì giải pháp nào là tối ưu?

TS Nguyễn Đức Kiên: Để thực hiện được việc tập trung ruộng đất, áp dụng công nghiệp và nông nghiệp, có lẽ chúng ta phải hình thành một ngân hàng đất, ngân hàng đất này có thể phác họa ra mô hình như một cơ quan nhà nước theo kiểu Ngân hàng chính sách xã hội, được nhà nước thành lập, nhận ruộng của người nông dân, giống như thuê lại đất của người nông dân rồi cho các doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp thuê lại đất của nhà nước. Nó sẽ như ngân hàng xã hội đất, là doanh nghiệp dịch vụ công không lợi nhuận, hoặc có thì là dựa trên kết quả kinh doanh đất của doanh nghiệp. Lúc này người nông dân sẽ yên tâm rằng ruộng của họ vẫn còn, nó không mất đi như khi bán đất cho khu công nghiệp, nhưng người ta lại cũng giải quyết được việc làm, có thu nhập. Đây là một phương cách để người nông dân ly nông bất ly hương, trở thành người công nhân nông nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư lớn vào trong nông nghiệp, bao gồm đầu tư về vốn, về đất nông nghiệp, về công nghệ làm ra các sản phẩm đưa ra thị trường. Lúc đấy nhà nước và các TCTD cũng mới có khả năng để cho doanh nghiệp nông nghiệp vay đầu tư khoa học công nghệ, đầu tư vốn, nhà nước có thể hỗ trợ lãi suất bằng 0 trong vòng 3 năm đầu cho doanh nghiệp. Như vậy mới giải được bài toán muôn thuở, câu chuyện của người nông dân tiếp cận các tổ chức tín dụng đã khó, thủ tục cho vay lại phức tạp, yêu cầu lãi suất cao vì đầu tư vào nông nghiệp thường rủi ro lớn.

Chúng ta phải nói rõ rằng khi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhà nước có trách nhiệm giao tài sản chung của xã hội cho người nào làm tốt nhất, sử dụng có hiệu quả nhất tài sản ấy, lợi nhuận sau đó sẽ được phân phối lại cho xã hội để thực hiện cồng bằng, công khai, dân chủ. Nó cũng giống như cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

PV: Xin cảm ơn ông./.

 

Thu Lan (thực hiện)