Trang chủ   |   Giới thiệu   |   Sơ đồ báo   |   English   |   Français  | 
Hôm nay, ngày 1 tháng 11 năm 2014
Tìm kiếm     

Ðiện thoại
  +084 8048916
+084 8048161
+084 8048160
Fax:08044175
e-Mail:
  dangcongsan@cpv.org.vn
bandoc.dcsvn@gmail.com
Chủ trương – chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số và phát triển
10:24 | 23/07/2004
I. Chủ trương – chính sách của Đảng, Nhà nước về dân số và phát triển
Sinh đẻ có kế hoạch là vấn đề được Đảng và nhà nước ta quan tâm từ rất sớm. Ngay từ năm 1961,Chính phủ đã đề ra chủ trương vận động sinh đẻ có kế hoạch .Năm 1963, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị 99-TTg phát động cuộc vận động. Cuộc vận động đã được đẩy mạnh ở miền Bắc từ năm 1972 và sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất đã được mở rộng trên phạm vi cả nước mặc dù cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đã được triển khai ở miền Bắc nhiều năm qua nhưng tỷ lệ phát triển dân số còn cao. ở miền Nam, tỷ lệ sinh hàng năm vẫn rất cao nhiều gia đình đẻ con quá đông, phong trào thực hiện sinh đẻ có kế hoạch vẫn chưa mạnh và ổn định. Tốc độ phát triển dân số vẫn còn rất cao không cân đối với tốc độ phát triển kinh tế. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV về phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976-1980 nêu rõ: “ Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, kiên quyết giảm dần tốc độ tăng dân số hàng năm, phấn đấu đến năm 1980 tỷ lệ tăng dân số là trên 2% một ít. Mọi ngành, mọi cấp phải coi cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là công tác có tầm quan trọng to lớn, có ý nghĩa chính trị, kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của nhân dân ta”.
Để thực hiện mục tiêu nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, các cấp, các ngành trong cả nước đã phối hợp hoạt động trong cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em và đã đạt được một số thành tích đáng khích lệ như giảm dần được tỷ lệ phát triển dân số các tỉnh miền Bắc từ 3,4 % năm 1960 xuống còn 2,5 % năm 1971. Ở miền Nam tuy cuộc vận động mới được tiến hành trong những năm gần đây nhưng cũng đã đạt một số kết quả bước đầu.
Để cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, tháng 10 năm 1978, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị 265/ CP về việc đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch nhằm đạt mục tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân số trong cả nước đến năm 1980 còn 2% hoặc trên 2% một ít trong đó miền Bắc khoảng 1,5%, miền Nam khoảng 2,1%. Hướng của cuộc vận động là: “ Phải nói rõ tác hại do sinh đẻ quả nhiều, sinh đẻ dày và sinh đẻ sớm. Đồng thời nêu rõ lợi ích và yêu cầu sinh đẻ có kế hoạch là phụ nữ sinh đẻ vừa phải (2,5 con), sinh đẻ thưa (cách nhau 4,5 năm) và sinh đẻ khi người phụ nữ đã có cơ thể được phát triển hoàn thiện ( 20 tuổi trở nên)”. Trong đó, Bộ ytế có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và kết hợp với các đoàn thể quần chúng khác thực hiện.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IV cùng chỉ thị 265/CP, năm 1978 Bộ ytế đã ra chỉ thị 10- BYT/CT quy định mức phấn đấu đối với miền Bắc : “ Tỷ lệ dân số phải đạt 1,5%; đối với miền Nam tỷ lệ phát triển dân số là 2,5%.”
Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch ngày càng được phát triẻn mạnh mẽ. Chỉ tiêu sinh đẻ có kế hoạch đã được đưa vào kế hoạch của các tỉnh. Nhiều nơi đã kết hợp cuộc vân động sinh đẻ có kế hoạch với cuộc vân động xây dựng gia đình văn hoá mới và các phong trào khác của địa phương. Trước tình hình và nhiệm vụ mới, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch cần phải được đẩy mạnh hơn nữa. Sinh đẻ có kế hoạch cần phải được thực hiện một cách kiên trì , liên tục trong nhiều năm nữa mới có thể duy trì được những kết quả đã đạt được một cách bền vững. Cuộc tổng điều tra dân số năm 1979 cho thấy mặc dù cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn còn rất hạn chế: tỷ lệ sinh giảm rất chậm, dân số Việt Nam đã đạt 52,7 triệu người.
Ngày 12 tháng 8 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng đã ra chỉ thị 29- HĐBT về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm 1981- 1985. Trong chỉ thị nêu rõ: “ Sinh đẻ ít, sinh đẻ thưa, nam nữ thanh niên đã kết hôn thì vận động chậm sinh con đầu lòng. Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên đẻ và đẻ thưa cách nhau 5 năm, người phụ nữ nên sinh đẻ khi cơ thể đã phát triển hoàn thiện, tốt nhất từ 22 tuổi trở nên. Đến năm 1985 phải đạt mục tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân số bình quân cả nước là 1,7 %, trong đó mòn Bắc là 1,5 % trở xuống , miền Nam 1,9 % trở xuống. Tỷ lệ sinh đẻ trong công nhân viên chức là 8% so với tổng số nữ công nhân viên chức trong đơn vị”. Tuy nhiên, tình hình thực tế vẫn không mấy khả quan hơn trước.
Năm 1981 là năm đầu thực hiện hiến pháp mới. Trong hiến pháp mới điều 47 đã ghi rõ: “ Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ trẻ em, vận đống sinh đẻ có kế hoạch”. Toàn Đảng, toàn dân đã ra sức thi đua, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch các mục tiêu đề ra và cuộc vân động sinh đẻ có kế hoạch cũng được đẩy nên một bước mới.
Để nhằm huy động tốt hơn nữa các đơn vị tổ chức tham gia vào công tác dân số- KHHGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng đã có quyết định số 58-HĐBT về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch gồm 11 thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành và đoàn thể nhân dân, sau đó được thành lập ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương. “ Uỷ ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch có nhiệm vụ giúp Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo về công tác dân số và sinh đẻ có kế hoạch, chủ trì việc phối hợp giữa các cơ quan, các đoàn thể quần chúng tổ chức thực hiện công tác dân số và sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch một lần nữa được nêu rõ: “ Giảm tốc độ tăng dân số là nhiệm vụ có tính chiên lược. Các cấp uỷ Đảng, cấp chính quyền, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở phải coi đó là công việc thường xuyên, cấp bách trong chương trình hoạt động của mình. Củng cố và tăng cường hoạt động của cơ quan dân số và kế hoạch hoá gia đình, bảo đảm đủ kinh phí, phương tiện, cán bộ để đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch’’.
Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đã được triển khai rộng khắp trong cả nước từ Trung ương đến địa phương .Một trong các tỉnh thực hiện tốt phong trào sinh đẻ có kế hoạch là Thái Bình. Thái Bình là một trong những tỉnh đông dân ở đồng bằng Sông hồng. Những năm sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bên cạnh những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái bình cũng đã nhận thức được vai trò quan trọng của cuộc vận động việc sinh đẻ có kế hoạch . Thực hiện tốt cuộc vận động sẽ có tác dụng hạ thấp được tỷ lệ phát triển dân số từ đó góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu khác của tỉnh. Do vậy, Ban thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình đã ban hành các nghị quyết, nghị định về việc đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch như: Nghị quyết 12/ NQ-TU ngày 16 tháng 3 năm 1981 về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong những năm tới: “ Mục tiêu chung của tỉnh ta từ nay đến năm 11984 phải hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống 1,5%’’. Để đạt được mục tiêu trên, một số các biện pháp cũng được đề ra như đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành, các đoàn thể quần chúng để mọi người quán triệt thật đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa mục đích nội dung cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch . Phải kế hoạch hoá việc sinh đẻ một cách có ý thức và chủ động, phải đưa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch thành một chỉ tiêu thi đua phấn đấu của mỗi đơn vị, gắn chặt nó với việc xét thi đua, nâng lương, phát thẻ Đảng…’’.
Hay như nghị quyết 24/ NQ-TU ngày 20 tháng 4 năm 1985 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Bình về vấn đề sinh đẻ có kế hoạch –KHHGĐ tiếp tục đưa ra các biện pháp để thực hiện cuộc vận động nêu trên.
Bên cạnh việc đề ra các biện pháp thực hiện Uỷ ban nhân dân Tỉnh Thái bình còn đề ra các chính sách đối với những người áp dụng biện pháp tránh thai, tránh đẻ,thôi đẻ bao gồm các quyền lợi, chế độ khen thưởng mà họ được hưởng cũng như đưa ra các hình thức phạt đối với ai vi phạm trong quyết định 514/QĐ-UB, ngày 19 tháng 12 năm 1984 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái bình về việc ban hành Quy định tạm thời về một số chế độ, chính sách thực hiện sinh đẻ có kế hoạch .
Tiền giang cũng là một tỉnh đông dân ở Đồng bằng sông Cửu long. Sau giải phóng, nhân dân Tiền giang cũng như bao vùng khác bắt tay vào xây dựng quê hương và thực hiện cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch . Chỉ trong vòng 5 năm 1976- 1980, Tiền giang đã đạt được một số kết quả khả quan : năm 1976 là 2,86% xuống còn 2,3% năm 1980. Tỷ lệ số người sử dụng các biện pháp tránh thai cũng tăng lên.
Để tiếp tục phát huy những kết qủa đã đạt được Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định 798/QĐ-UB ngày 6 tháng 11 năm 1982 quy định việc khen thưởng đối với các cá nhân, đơn vị thực hiện tốt công tác sinh đẻ có kế hoạch .Trong quyết định đã nêu rất chi tiết chế độ khen thưởng và những khoản thưởng đối với những cá nhân, đơn vị thực hiện tốt quy định đề ra như về việc đặt vòng tránh thai, triệt sản, nạo phá thai, đăng ký sinh thưa.
Để quyết định 798 được thực hiện một cách có hiệu quả, ngày 14 tháng 3 năm 1983, sở y tế Tiền Giang đã ra hướng dẫn 128/HD-YT về việc thực hiện khen thưởng đối với công tác sinh đẻ có kế hoạch . Trong hướng dẫn cũng đã nêu chi tiết những thủ tục khen thưởng đối với các đơn vị, cá nhân được khen thưởng, quy định về kinh phí chi cho khen thưởng về sinh đẻ có kế hoạch . Cũng trong năm 1983, Sở y tế Tiền Giang tiếp tục ban hành hướng dẫn 325 ( HD-YT ngày 19 tháng 5 năm 1983 về khen thưởng cá nhân thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch .
Trong mục tiêu phấn đấu của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch ( kế hoạch 5 năm 1981- 1985) có quy định cụ thể mục tiêu tỷ lệ phát triển dân số cho các tỉnh, thành phố trong đó, mục tiêu của thành phố Hà nội đến cuối năm 1985 là: tỷ lệ phát triển dân số của Hà Nội là 1,5% .Để đạt được mục tiêu này, thành phố Hà Nội đã có nhiều nỗ lực, đề ra các biện pháp nhằm hạ tỷ lệ phát triển dân số. Trong nghị quyết 3756 QĐ-UB ngày 8 tháng 10 năm 1985 của hội đồng nhân dân thành phố Hà nội về một số chế độ khuyến khích thực hiện kế hoạch hoá gia đình đã nêu ra những mục tiêu cụ thể, những quy định đối với cá nhân cũng như chế độ khen thưởng đối với những đơn vị thực hiện tốt cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch .
Nghị quyết bao gồm ba phần: Phần 1 là các mục tiêu chung như: “ Mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con cách nhau 5 năm, nữ không đẻ con trước 22 tuổi”… Phần 2 là những quy định đối với các cá nhân, quy định rõ chế độ cũng như khoản tiền thưởng đối với những ai thực hiện tốt chế độ khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch và quy định mức phạt đối với những ai vi phạm, đồng thời cũng quy định về đối tượng áp dụng các điều khoản trên. Phần 3 quy định chế độ khen thưởng đối với những đơn vị (quận, phường, xã, cơ quan,xí nghiệp, các đơn vị y tế…) thực hiện tốt cuộc vận động.
Không chỉ các tỉnh đồng bằng thực hiện tốt cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch mà các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa cũng đã đạt được những kết quả khả quan.Hà Tuyên là một trong những tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ dân số cao, do đó công tác vận động sinh đẻ có kế hoạch rất được tỉnh Uỷ Hà Tuyên coi trọng. Ngày 22 tháng 7 năm 1982, Uỷ ban nhân dân Tỉnh Hà Tuyên đã ban hành quyết định 647/ QĐ- UB về việc quy định tạm thời chế độ khuyến khích thực hiện sinh đẻ có kế hoạch .
Quyết định này được thành lập căn cứ vào chỉ thị 29-HĐBT về việc đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch . Căn cứ vào mục tiêu của chỉ thị 29, Uỷ ban Nhân dân Tỉnh giao chỉ tiêu phát triển dân số cho các huyện, thị xã và chỉ tiêu sinh đẻ cho các ngành trong kế hoạch 5 năm (1981-1985) của tỉnh: tỷ lệ phát triển dân số ở các huyện, thị xã đến năm 1985 còn 1,7%, tỷ lệ sinh đẻ ở các cơ quan nhà nước là 8%, đồng thời phấn đấu thực hiện phong trào dứt điểm sinh đẻ có kế hoạch do Bộ y tế đề ra.
Trong quyết định cũng quy định cụ thể chế độ đối với những người áp dụng các biện pháp tránh thai và đặc biệt kết quả thực tế về sinh đẻ có kế hoạch như ngoài tiêu chuẩn thuốc men và ngày nghỉ do nhà nước quy định còn được bồi dưỡng một số chế độ như thưởng thêm bằng tiền hoặc bằng thóc; chế độ khen thưởng đối với những đơn vị đạt tiêu chuẩn dứt điểm sinh đẻ có kế hoạch , đối với cán bộ làm công tác kỹ thuật ( trong ngành y tế) cùng số tiền thưởng tương ứng.
Trong cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, một trong những đối tượng được quan tâm đó là các dân tộc thiểu số. Đối với các đối tượng khác, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch nhằm mục đích hạ thấp mức sinh nhưng đối với các dân tộc ít người lại không đặt vấn đề giảm tốc độ tăng dân số mà vấn đề đặt ra là bảo vệ bà mẹ và trẻ em . Ví dụ điển hình như ở huyện Mai châu, tỉnh Hà Sơn Bình. Đa số dân ở đây là người Thái và H’Mông, nhân dân ở đây rất quan tâm đến phong trào sinh đẻ có kế hoạch ,có như vậy, người phụ nữ mới được giải phóng , sức khoẻ bà mẹ và trẻ em mới được đảm bảo.
Trong chỉ thị 265 /CP cũng đã đề cập đến việc vận động sinh đẻ có kế hoạch đối với đồng bào các dân tộc thiểu số: “ Đối với đồng bào cùng tôn giáo và cùng dân tộc ít người cần có phương tiện tuyên truyền thích hợp. Đối với các dân tộc ít người mà dân số không phát triển thì khuyến khích phát triển dân số, hướng dẫn vệ sinh, khám chữa bệnh phụ khoa , nuôi con theo khoa học, xoá bỏ những tập quán lạc hậu có hại đến sức khoẻ bà mẹ và trẻ em).
Căn cứ vào chỉ thị trên, ngày 20 tháng 11 năm 1978 , Bộ y tế đã ban hành thông tư 4200/BYT/CB hướng dẫn việc thực hiện chỉ thị 265 của Chính phủ yêu cầu các sở, ty, các đơn vị trực thuộc, các phòng y tế, các ngành nghiên cứu thực hiện, trong đó có đề cập đến các dân tộc thiểu số ở vùng rẻo cao : “ Đối với đồng bào dân tộc ít người, nếu gia đình đông con từ 4 con trở nên mà tự nguỵên xin đặt vòng hoặc áp dụng các biện pháp tránh thai thì giải quyết theo yêu cầu của họ ”.
Trong chỉ thị 29- HĐBT ngày 12 tháng 8 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm từ 1981-1985 tiếp tục đề cập đến vấn đề của các dân tộc: “ Riêng đối với một số các dân tộc ít người, đang cần phát triển dân số thì phải tăng cường giúp đỡ mọi mặt, để đồng bào sinh đẻ và nuôi dưỡng tốt các cháu, chống nạn hữu sinh vô dưỡng, làm dân số của dân tộc này tăng lên”.
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định 161/ HĐBT về một số chính sách dân số – KHHGĐ có điều khoản quy định số con mỗi cặp vợ chồng trong đó có quy định số con của các gia đình dân tộc: “ Gia đình các dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam mỗi cặp vợ chồng cũng chỉ được sinh tối đa 3 con ”.
Như vậy, trong vòng 11 năm từ 1975- 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp các nghành có liên quan trong cả nước đã cùng nhau xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch để đưa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch phát triển trên quy mô ngày càng rộng, ngày càng đi vào chiều sâu, dần đưa tốc độ phát triển dân số đến mức hợp lý, thực hiện mục tiêu mà các kỳ Đại hội Đảng IV, V đã đề ra.
Di dân thời kỳ 1975- 1986.

I. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dẫn đến di dân:
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc , đã nhiều lần nhân dân ta phải thực hiện những cuộc di dân để tránh tai nạn chiến tranh, giặc giã , trốn tránh kẻ thù, bảo tồn dòng họ đang bị săn đuổi…
Do đặc điểm địa lý của Việt Nam đã dẫn đến sự phân bố không đồng đều giữa dân số và diện tích đất đai. Chính vì vậy , yêu cầu di dân được đặt ra để nhằm cân bằng lại sự mất cân đối này. Nếu xét về yếu tố địa lý, sự khác nhau giữa phía Bắc đông dân với phía Nam thưa dân, giữa những vùng đồng bằng ven biển và vùng miền núi ( hơn 80% dân số cả nước sống ở đồng bằng với 20% diện tích tự nhiên và 20% dân số sống ở miền núi với 80% diện tích cả nước) đã làm cho việc sử dụng lao động không đạt hiệu quả. Do vậy, việc khai thác đất đai phì nhiêu, nguồn thổ sản phong phú tại các miền đất mới chưa ai khai phá đã có sự hấp dẫn lớn đối với những người dân ở những nơi “đất chật người đông”, đặc biệt là những người nghèo, thiếu, hoặc không có ruộng đất.
Giữa các vùng trong cả nước cũng có sự khác nhau về phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động. Những miền vùng núi rất giằu tài nguyên khoáng sản nhưng do dân số ít nên chưa được khai thác đầy đủ . Trong khi đó, những vùng đồng bằng đông dân, dôi thừa lao động nhưng lại thiếu đất. Những vùng lãnh hải rộng lớn đã được xác định chủ quyền, rất giầu tiềm năng biển nhưng chưa được khai thác … Một khác, vấn đề đảm bảo an ninh quốc phòng tại các vùng giáp ranh biên giới, tăng mật độ dân cư tại các địa bàn xung yếu cũng đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện việc di dân.
Ngoài ra, nhiều nguyên nhân khác như đi theo gia đình, sự thay đổi khí hậu, đến những nơi có mức thu nhập cao hơn, điều kiện văn hoá, giáo dục y tế tốt hơn…cũng dẫn đến hiện tượng di dân.
II. Di dân giai đoạn 1975-1986:
2.1 Di dân giai đoạn trước 1975:
Trong giai đoạn từ 1954- 1969, nhiều đơn vị quân đội đã lên biên giới phía Bắc và phía Tây để truy quét phỉ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ đã định cư tại đó, thành lập các nông , lâm trường quốc doanh. Năm 1960, cùng với phong trào đi khai hoang vùng kinh tế mới tại miền Bắc, hơn 1 triệu người dân đã từ đồng bằng sông Hồng, trung du lên miền núi để khai hoang, thành lập xóm làng, nông trường. Họ đã gặp rất nhiều khó khăn như thiếu cơ sở hạ tầng, phương hướng sản xuất, đã có không ít người bỏ về. Tuy nhiên, những người bám trụ lại với mảnh đất mới dần dần đã ổn định cuộc sống, tuy không giàu có, nhưng cũng hơn quê cũ. Việc di dân này cũng giúp làm giảm mật độ dân cư ở đồng bằng sông Hồng, phát triển kinh tế miền núi, mang lại tiến bộ cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Trước năm 1975, đất nước đang bị chia cắt làm hai miền, việc di dân trong giai đoạn này không chỉ diễn ra tại miền Bắc mà còn cả ở miền Nam. Mỹ nguỵ cũng tiến hành việc di dân với tính chất , mục đích phục vụ ý đồ chiến tranh. Để thực hiện ý đồ của mình, chúng đã coi trọng vai trò của đô thị và đề ra cái gọi là “ đô thị hoá cưỡng bức”. Hệ quả là 12 triệu dân trong tổng số 19 triệu dân miền Nam phải rời bỏ quê hương lánh nạn vào các đô thị và trại định cư để tránh sự khủng bố, tàn sát của Mỹ –Nguỵ. Số liệu dưới đây sẽ cho thấy rõ về thực trạng di dân của nhân dân miền Nam trong giai đoạn này’1
Số dân lánh nạn đăng ký trong các năm: 8.237.000
( cộng dồn từ năm 1965-1974)
Việt kiều ở Cam pu chia hồi hương 1970: 210.000
Số dân lánh nạn ở vùng giải phóng 1972: 700.000
Số dân phỏng định là không đăng ký: 2.000.000
Sau khi hiệp định PaRi được ký kết ( 27/1/1973), Mỹ Thiệu đã ngăn cản dân chúng về quê cũ, chúng đã bắt ép hàng trăm ngàn người dân( kể cả đồng bào dân tộc thiểu số) di cư từ tỉnh này sang tỉnh khác và bắt họ định cư ở vùng tranh chấp.
2.2 Giai đoạn 1975- 1986:
Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, di dân được tiến hành trên phạm vi cả nước. Mục đích di dân thời kỳ này là nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp để phục vụ xuất khẩu. Tại những nơi xuất cư, do có sự tổ chức lại sản xuất cho nên sản lượng lương thực dã tăng rõ rệt qua các năm. Đối với những vùng nhập cư, dân di cư từ nơi khác đến góp phần tạo sự cân đối giữa lao động và đất đai, tạo điều kiện cho sự khai thác và phát huy các thế mạnh của vùng nơi họ nhập cư, điều này cũng đáp ứng được nhu cầu việc làm và cải thiện đời sống- mục dích chính của dân di cư.
Địa bàn di cư trong giai đoạn này bao gồm: vùng xuất cư là các vùng đông dân như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển khu Bốn cũ và khu Năm. Vùng nhập cư gồm có Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và trung du miền núi phía Bắc. Taị các vùng nhập cư , người dân ở các vùng khác di cư đến đã đáp ứng được nhu cầu về lao động tại đây, bổ xung lực lượng lao động đông đảo cho các ngành kinh tế quan trọng, xây dựng mới nhiều vùng chuyên canh cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè… Đến năm 1980, diện tích trồng cao su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là 8,7 vạn ha, đến năm1987 con số này đã là 20 vạn ha, diện tích trồng cà phê và nhiều loại cây khác cũng tăng lên đáng kể.
Hình thức di dân chủ yếu là ttập trung, quy mô lớn. Ngoài ra còn có các đợt di dân với quy mô nhỏ tới tất cả mọi miền có khả năng mở rộng thêm đất đai.
Bảng 1: Hiện trạng đi xây dựng các vùng kinhtế mới trong 12 năm 1976-1987.

Giai đoạn Kế Hoạch Thực Hiện

Khẩu Lao động Khẩu Lao động
1976- 1980 4,0 1,8 1,5 0,55
1981- 1985 1,0 0,4 1,3 0,59
1985- 1987 0,97 0,42 0,60 0,28

Nguồn:Hội nghị khoa học về di dân
Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động 1988- trang 27.
Theo như bảng trên thì trong kế hoạch 5 năm 1976- 1980 di chuyển 4 triệu khẩu, 1,8 triệu lao động đi khai hoang, mở rộng diện tích 1 triệu ha. Nhưng trong thực tế chỉ di chuyển được 1,5 triệu nhân khẩu với 0,55 triệu lao động. Rõ ràng đây là một kế hoạch hoàn toàn không có căn cứ thực hiện, con số đưa ra quá lớn, chủ quan duy ý trí, không tính được hết những điều kiện của nơi tiếp nhận, không sát thực tế.
Sang giai đoạn 1981- 1985, theo kế hoạch di chuyển 1 triệu khẩu với hơn 0,4 triệu lao động nhưng số thực tế lại vượt quá chỉ tiêu. Số khẩu thực tế di là 1,3 triệu người với 0,59 triệu lao động. Điều này chứng tỏ kế hoạch di dân đã bám sát thực hơn, tránh được tình trạng mục tiêu đề ra quá cao, thiếu căn cứ khoa học như trong giai đoạn trước. Một nguyên nhân khác khiến cho số lượng người di dân tăng cao hơn kế hoạch là trong giai đoạn này, nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân rất thấp. Chính vì vậy, họ muốn di cư đến những vùng đất mới làm ăn sinh sống, cải thiện cuộc sống còn nghèo nàn do vậy bắt buộc họ phải làm lại từ đầu.
Hướng di dân chủ yếu trong giai đoạn này bao gồm 3 hướng chính: Bắc- Bắc; Bắc –Nam; Nam-Nam.
Bảng 2: Quy mô di dân theo hướng di chuyển.

Hướng di dân 1976-1980 1981-1985 1986-1989 1976-1989
Nam-Nam
Bắc-Nam
Bắc-Bắc
Tăng 294
206
195
659 42
30
28
100 83
323
14
420 20
77
03
100 33,6
126,1
1,7
160,4 20
79
1
100 410,6
654,1
210,7
275,4 32
51
17
100
Nguồn: Hội nghị nghiên cứu dân số và phát triển nguồn nhân lực- Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động 1991- trang 5
Chủ yếu trong suốt thời kỳ 1976-1989 là hướng di chuyển Bắc- Nam. Tính riêng hai thời kỳ 1981-1985 và 1986-1989 tỷ lệ người di cư Bắc – Nam chiếm tttương ứng 77% và 79% và tímh chung cho cả thời kỳ là 51%. Nguyên nhân của hiện tượng này là do điều kiện kinh tế, xã hội miền Nam luôn luôn phát triển cao hơn miền Bắc, ở đó người dân dễ sống hơn, thiên nhiên ưu đãi hơn miền Bắc với cuộc sống khó khăn hơn, đông đúc chật chội hơn và điều kiện tự nhiên kém ưu đãi . Hướng di dân Bắc –Nam không phẩi chỉ diễn ra từ sau ngày giải phóng đất nước mà đã được tiến hành từ nhiều thế kỷ trước, trong suốt chặng đường dựng nước và giữ nước của dân tộc . Mảnh đất phía Nam luôn là nơi trù phú, tươi tốt đất rộng người thưa đang chờ bàn tay con người khai phá. Trong khi đó, miền Bắc là nơi thừa lao động nhưng thiếu đất, điều kiện tự nhiên không thuận lợi, vẫn xẩy ra tình trạng mất mùa, thiếu đói .
Hai hướng còn lại là Nam- Nam và Bắc –Bắc chiếm tỷ lệ nhỏ. Giai đoạn 1976-1980, hướng di dân chủ yếu là Nam –Nam với 294 ngàn người, chiếm tỷ lệ 42% nhưng sang đến giai đoạn 1981-1985 và 1985-1989, số lượng người di dân theo hướng này ngày càng giảm từ 83 ngàn người xuống còn 33,6 ngàn người. Địa bàn di cư chủ yếu là từ khu 4, khu5 vào Tăy Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long.
Hướng di chuyển Bắc- Bắc chiếm tỷ trọng không đáng kể trong giai đoạn 1976-1989. Hướng di chuyển này phần lớn được thực hiện trong giai đoạn 1960- 1975 do dân di cư từ đồng bằng lên trung du miền núi phía Bắc xây dựng kinh tế mới. Sau giải phóng, luồng di dân theo hướng này giảm dần và chỉ còn lại rất ít, giai đoạn 1981-1985 chỉ chiếm 3% và đến giai đoạn 1986-1989 chỉ còn có 1%.
Như vậy, nếu xét trong cả thời kỳ1976-1989 thì trong 3 luồng di dân chính, luồng di dân theo hướng Bắc –Nam chiếm tỷ lệ cao nhất(51%), tiếp sau đó là hướng Nam-Nam(32%), ít nhât là hướng Bắc-Bắc chỉ chiếm có 17% mức tăng qua các giai đoạn vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng giảm dần. Giai đoạn 1976-1980 tăng 695 ngàn người, sang đến giai đoạn 1981-1985 chỉ còn tăng 420 ngàn người và đến giai đoạn 1986-1989 còn tăng ít hơn nữa chỉ có 160,4 ngàn người. Mức tăng qua các năm chủ yếu là do số lượng dân di cư theo hướng Bắc –Nam tăng, hai hướng còn lại không những không tăng mà còn giảm mạnh.
- Di dân tự do:
Bên cạnh các luồng di dân có tổ chức theo kế hoạch của nhà nước còn tồn tại các luồng di dân tự do. Đặc trưng của dòng di dân này là người dân cân nhắc và tự quyết định cùng với vốn và sự tính toán của họ.
Bảng 3: Số lượng di dân tự do tại một số tỉnh có quy mô di dân lớn thời kỳ 1976-1990
Vùng đi Vùng đến
Hộ Khẩu Hộ Khẩu
Trung du miền núi phía Bắc 11500 52.320 Tây nguyên 20.900 93.300
-Cao Bằng 9000 39.000 - Đắc Lắc 15.900 71.200
- Lạng Sơn 1300 5460 - Lâm Đồng 4.300 18500
- Hoàng Liên Sơn 830 5.400 - Gia Lai 700 3.600
Khu 4 cũ 750 4600 Đông Nam Bộ 21.000 95.000
- Nghệ Tĩnh 750 4600 - Sông Bé 12.000 60.000
Khu 5 4.200 19.000
- Thuận Hải 4.200 19.00
Nguồn: Hội nghị nghiên cứu dân số và phát triển nguồn nhân lực- Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động-Dự án vie/89/P03- trang 2.
Các địa bàn di dân tự do tại vùng trung du miền núi phía Bắc gồm Cao Bằng, Lạng Sơn,Hoàng Liên Sơn,Bắc Thái,Hà Bắc; khu 4 cũ gồm Nghệ Tĩnh, Quảng Trị. Vùng nhập cư ở Tây Nguyên gồm Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai Kom Tum; Đông Nam Bộ gồm Đồng Nai , Sông Bé; Khu 4 gồm Thanh Hoá ;Khu 5 gồm Thuận Hải , Khánh Hoà, Quảng Nam Đà Nẵng. Vùng vừa xuất cư ,vừa nhập cư là trung du miền núi phía Bắc: Sơn La, Lai Châu, Bắc Thái. Trong các tỉnh trên, lượng dân di cư tự do chủ yếu tập trung ở 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn,Hoàng Liên Sơn. Các tỉnh có số dân nhập cư chiếm đa số bao gồm Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai Kom Tum ở Tây Nguyên và Đồng Nai ,Sông Bé ở Đông Nam Bộ.
Các dòng di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và vào các tỉnh phía Nam cchiếm gần 30% nhưng nếu xét riêng dòng di dân tự do từ các tỉnh miền núi trung du phía Bắc đến Tây Nguyên mà trước hết là Đắc Lắc và Lâm Đồng thì tỷ lệ này là trên 50%. Đây là dòng di dân tự do có cự ly xa nhất và quy mô lớn nhất. Trong dòng di cư này chủ yếu là người các dân tộc Tày, Nùng, Hmông và Dao. Sau năm 1975, đặc biệt là trong thời gian xẩy ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, dòng di dân này được hình thành và ngày một gia tăng. Không chỉ đến Tây Nguyên, dòng di dân tự do của người Tày, Nùng còn đến các tỉnh Đồng Nai,Sông Bé và đặc biệt Đắc Lắc còn nhiều hơn cả. Ngoài ra, trong giai đoạn 1976- 1990, cuộc sống của người dân phía Bắc rất khó khăn, đối với các vùng cao ,vùng sâu, vùng xa, cuộc sống của đồng bào các dân tộc còn vất vả ,khó khăn hơn nữa. Đó là nguyên nhân khiến cho dòng di dân tự do này có quy cơ lớn.
Ngoài dòng di dân tự do Bắc- Nam còn có một dòng di dân nữa quy mô nhỏ hơn đó là dòng di dân trong nội bộ các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong quá trình này diễn ra từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ huyện này sang huyện khác như các tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu di cư sang nhau.
ở các khu kinh tế mới phía Nam đã có một bộ phận, với số lượng không lớn, bỏ về và họ lại thực hiện việc di cư đi khắp các miền trong cả nước. Theo thóng kê thời kỳ 1975-1980 số bỏ về từ các khu kinh tế mới là 30%, thời kỳ 1981- 1991 con số này là 12%.
Nguyên nhân di dân
Phần lớn cộng đồng di cư đều xuất phát từ những vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc( Hà Nam Ninh, Thanh Hoá, Hà Sơn Bình…). Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai, thiên tai… nên những thay đổi thất thường của những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và tình hình sản xuất của người dân.
ở những vùng xuất cư, tư liệu lao động rất thiếu. ở đây không chỉ thiếu trâu bò làm sức kéo mà ngay cả các công cụ làm ruộng thủ công như cày ,bừa… cũng còn thiếu. Mặt khác khả năng đầu tư vào đất đai tại những nơi này rất thấp do vậy năng lực sản xuất không cao.
Thu nhập thấp nhất là một trong những nguyên nhân di dân. Trong mỗi họ, số lao động không nhiều nhưng số lượng người ăn theo lại quá đông. Ngoài ra còn phải chi cho các khoản như ma chay, giỗ chạp, cưới xin… rất tốn kém. Do vậy, khoản thu nhập còn lại để tích luỹ còn lại rất ít hoặc không còn.
Ngoài ra, một nguyên nhân rất quan trọng đó là yếu tố phong trào, tuyên truyền vận động. Vận động và tổ chức tốt cùng với chính sách thích hợp cũng có khả năng thu hút mạnh mẽ trong phong trào di xây dựng các vùng kinh tế mới.
Di dân quốc tế:
Di cư quốc tế là hiện tượng đẫ tồn tại từ rất lâu. Việc người Việt Nam di cư ra nước ngoài theo con đường hợp pháp hay bất hợp pháp và người nước ngoài vào dịnh cư tại Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta vì vấn đề này không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà nó còn liên quan đến các mối quan hệ bang giao giữa các nước. Nếu vấn đề này không được giải quyết hợp lý, nó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Sau năm 1975, khi cuộc chiến tranh hoàn toàn kết thúc, Việt Nam lâm vào hoàn cảnh hết sức khó khăn , thiếu thốn về mọi mặt. Đội ngũ cán bộ có trình độ học vấn cao thiếu nghiêm trọng. Trong hoàn cảnh ấy Việt Nam đã đưa các cán bộ kỹ thuật, cán bộ y tế và giáo viên sang làm việc tại một số nước Châu Phi vừa nhằm giải quyết vấn đề việc làm, vừa để nâng cao trình độ, tiếp thu những kiến thức mới sau này về phục vụ đất nước. Từ những năm 1980 trở đi Việt Nam còn gửi người đi học tập và lao động tại một số nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc và Bungari theo hiệp định song phương ký giữa hai Chính phủ.
Bảng 4: Số lao động đi bốn nước xã hội chủ nghĩa
Đơn vị : người
Năm Liên Xô Tiệp CHDC Đức Bungari Cộng
1980 - 420 1534 300 2254
- (242) (293) (57) (592)
1981 5200 8740 4027 3247 21214
(2347) (2479) (721) (439) (5986)
1982 5968 11870 4740 4125 26703
(3219) (3149) (1273) (539) (8176)
1983 6972 1860 664 3206 12702
(3559) (339) (88) (651) (4637)
1984 2650 - 388 1391 4429
(1360) - (198) (63) (1567)
1985 4996 - - - 4996
(3048 - - - (3043)
1986 9000 - - - 9000
(3105) - - - (3105)
1987 19650 2092 20448 3958 46148
(10565) (515) (11592) (529) (23201)
1988 27750 6784 30567 6560 71661
(13250) (1085) (7143) (598) (22076)
( ): Số nữ trong tổng số .
Nguồn: Báo cáo hội thảo dân số và phát triển vùng Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động Dự án VIE/87/P03- Trang 227.
Từ năm 1984, Việt Nam tiếp tục gửi người đi làm việc tại I rắc theo bản hợp đồng ký giữa Bộ thuỷ lợi Việt Nam với một tổng công ty của I rắc.
Bảng 5: Số đi làm tại I rắc
Năm 1984 1986 1988 Cộng
Người 990 2637 10680 14327
Nguồn: Báo cáo hội thảo dân số và phát triển vùng Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động Dự án VIE/87/P03- Trang 228.
Những lao động Việt Nam sang nước ngoài thường làm việc trong các ngành xây dựng cơ bản, công nghiệp nhẹ và chế biến. Số lao động này hàng năm thường gửi tiền, hàng về nước, do đó góp phần cải thiện đời sống của những gia đình có người thân đang làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên,số lượng người đi làm việc ở nước ngoài còn quá ít so với dân số của cả nước nên chưa góp phần làm giảm sức ép về dân số, việc làm cũng như làm tăng thu nhập quốc dân tính theo đầu người.
Từ năm 1976, những lao động Việt Nam hết hạn làm việc ở nước ngoài đã về nước. Với những kiến thức, kinh nghiệm nắm bắt được trong thời gian làm việc tại nước bạn, họ đã ứng dụng vào thực tiễn của Việt Nam. Tuy nhiên, do thực trạng nền kinh tế cũng như xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chưa thực sự ổn định nên việc phát huy những vốn quý đó chưa đạt được những hiệu qua như mong muốn.
Ngoài hình thức di cư hợp pháp có thời hạn còn một hình thức di cư nữa đó là di cư quốc tế hợp pháp không thời hạ. Sau năm 1975, mặc dù đất nước đã hoàn toàn thống nhất nhưng tình hình chính trị, xã hội vẫn chưa ổn định. Các thế lực thù địch đế quốc, phản động vẫn luôn đe doạ, tìm mọi thủ đoạn để chống phá ta, làm cho tình hình đất nước luôn không ổn định, nhằm làm mất uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Chúng đã kích động, gây ra các luồng di cư bất hợp pháp ra nước ngoài. Để làm thất bại âm mưu đó Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp trong đó có chính sách cho người Việt Nam ra nước ngoài đoàn tụ với gia đình theo chương trình ra đi có trật tự thông qua cơ quan Cao uỷ liên hợp quốc về người tỵ nạn ( UNHCR).
Những người đi theo con đường này được cấp hộ chiếu, được nước tiếp nhận cấp thị thực nhập cảnh. Những nước tiếp nhận chủ yếu là Mỹ, Pháp, Ca Na Đa, CHDC Đức… Người nhập cư tại những nước này đã nhanh chóng thích nghi được với hoàn cảnh mới. Họ làm những nghề có thu nhập thấp hoặc trung bình trong những điều kiện lao động vất vả, nặng nhọc mà ít người bản địa làm. Do cần cù, chịu khó nên nhiều người đã nâng cao được thu nhập, một số ít còn thành đạt trong học tập và đã trở thành những học giả có tên tuổi.
Dựa trên tinh thần nhân đạo, Chính phủ Việt nam còn cho phép thân nhân ở Việt Nam di thăm người nhà ở nước ngoài và những Việt kiều khi có điều kiện quay trở về thăm quê hương, đóng góp công sức xây dựng đất nước như gửi tiền, quà về nước giúp đỡ thân nhân hay góp quỹ công, trao đổi kiến thức, công nghệ mới cập nhật vào Việt Nam, đầu tư vốn…
Di cư bất hợp pháp là vấn đề nhức nhối trong giai đoạn 1975-1986. Hai năm 1975-1978 là hai đỉnh cao của làn sóng di dân bất hợp pháp. Năm 1975, sau khi giải phóng miền Nam, một luồng di cư ồ ạt của người Việt Nam sang Mỹ đã gây ra sự xáo trộn trong xã hội Việt Nam. Trong số này, ngoài một số người muốn đoàn tụ với gia đình còn có những đối tượng phản ứng giai cấp, thù địch với cách mạng, nợ máu với nhân đân. Một số khác bị bọn đế quốc lừa bịp, lôi kéo… Những người này không chịu thích nghi với hoàn cảnh mới, không thông cảm với tình hình khó khăn của đất nước… nên đã bỏ Tổ quốc đẻ ra đi. Đây là hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh và chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam cùng với âm mưu thâm độc của bọn đế quốc cùng bè lũ tay sai tiến hành cuộc chiến tranh phá hoaị nước ta. Tuy nhiên, nếu xét về mặt chủ quan, ta cũng còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế trong việc quản lý xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân mà việc khắc phục không chỉ trong một sớm một chiều là có thể làm được.
Đỉnh cao thứ hai của luồng di dân bất hợp pháp là vào năm 1978 và đầu năm 1979. Bọn phản động Bắc Kinh đã gây ra “ nạn kiều” làm cho hàng chục vạn người Hoa ồ ạt về nước, gây cho ta nhiều khó khăn về mọi mặt, đặc biệt là sự đình trệ sản xuất ở một số khâu như ở Quảng Ninh , Hải Phòng…Chính phủ đã phải tuyển thêm công nhân ở những khu mỏ để thay thế số người Hoa bỏ ra đi. Ngoài ra, nhà nước cũng phải điều dân bổ sung cho cá vùng biên giới phía Bắc để đảm bảo vấn đề an ninh quốc phòng.
Trong di cư quốc tế, không chỉ có người Việt Nam di cư ra nước ngoài mà còn có cả người nước ngoài di cư vào Việt Nam. Việc người nước ngoài di cư vào Việt Nam. Việc người nước ngoài di cư vào nước ta chủ yếu là người Cam pu chia sang ta tỵ nạn trong thời kỳ bọn Pôn Pốt- Iêng xa ri cầm quyền ở Cam pu chia( khoảng hơn 20 ngàn người) . Phần lớn trong số này sống tại các trại tỵ nạn ở một số tỉnh, thành phố phía Nam. Chính phủ Việt Nam đã phối hợp cùng với cơ quan Cao uỷ liên hợp quốc về người tỵ nạn và Hội chữ thập
đỏ quốc tế tái định cư cho họ sang nước thứ ba nhưng số lượng các
nước chịu tiếp nhận không nhiều và bản thân những người tỵ nạn Cam pu chia cũng không muốn về nước.
Cuối năm 1987, số người vượt biên bằng đường biển sang Hồng kông và một số nước Đông Nam á ngày càng tăng đặc biệt trong đó có nhiều người là cán bộ công nhân viên chức nhà nước.
Bảng 6: Số người di cư quốc tế giai đoạn 1976-1988.
Đơn vị tính : người
Năm đi trốn bằng thuyền đã tới nơi ODP
1976 5644 -
1977 15.633 -
1978 86373 -
1979 202158 1979
1980 73451 4706
1981 74749 9815
1982 43807 10057
1983 28055 10973
1984 24865 29154
1985 23251 24940
1986 19375 18418
1987 28211 12594
1988 22947
1989 - 19249
Cộng 620572 172832
(*): 6 tháng
Nguồn: báo cáo khoa học về di dân- Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động- Bộ lao động thương binh xã hội- trang 226
Những người ra đi bất hợp pháp luôn ảo tưởng về một cuộc sống giàu có nơi đất khách cho nên họ đã bất chấp nguy hiểm để ra đi. Phần lớn những người này đều bị phát hiện khi tầu đến bờ biển nước ngoài và họ bị tâp trung lại ở trong những trại tỵ nạn dành cho những người nhập cư bất hợp pháp để chờ ngày được trả về đất nước. Chính vì vậy, các ngành các cấp cần phải thực hiện các biện pháp ổn định tư tưởng, ngăn cản việc di cư bất hợp pháp, đảm baỏ tốt an ninh đường biển, ngăn chặn các vụ trốn bất hợp pháp
2.3 Di dân giữa các vùng trong cả nước:
Quy mô di dân giữa các vùng biến đổi cùng vứi sự thay đổi về vị trí của các địa bàn nhập cư trong kế hoạch di dân từng thời kỳ.
Bảng 7: Sự phân bố theo các vùng ra đi
Vùng nhập cư
Vùng xuất cư Trung du miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng Khu 4 cũ Khu 5 Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long Toàn quốc
Trung du miền núi phía Bắc 0.3 0.1
0.7 0.2
1.1 24.9 3.5
Đồng bằng sông Hồng 100 95 39 75 9 49
100 32.5 46.4 21.4 82 42.2
100 99.5 66.8 43.7 23.4 64.6
Khu 4 cũ 22 3.5 7.8
67.45 27.9 68.2 18 39.8
0.5 14.3 8.8 13.2
Khu 5 37.6 21.5 14
35.2 9.4 17.5
15.9 22.6 76.6 17.1
Tây Nguyên 5 0.04
10.05 0.3 0.1
Đông Nam Bộ 1.1 91 29.06
0.5 0.2
1.9 1.6
Đồng bằng sông Cửu Long
Toàn quốc 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Báo cáo hội nghị nghiên cứu dân số và phát triển nguồn nhân lực Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động- Dự án VIE/ 89/ PO3-trang 7.
Như vậy theo bảng trên ta thấy, nếu ta kẻ một đường chéo thì phần lớn phần nhập cư nằm ở phía bên trên đường chéo. Phần nửa phía dưới hàu như hoàn toàn không có nhập cư. Trong 7 vùng, chỉ có hai vùng là đồng bằng sông Hồng và khu 4 cũ là hoàn toàn chỉ có xuất cư không có nhập cư. Ngược lại đồng bằng sông Cửu Long chỉ có nhập cư , không có xuất cư. Các vùng còn lại đều có xuất và nhập cư với mức độ khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ.
Các địa bàn có quy mô xuất cư lớn gồm đồng bằng sông Hồng, khu 4, khu5. Trong giai đoạn 1976- 1980, trong 100 người xuất cư thì có 49 người thuộc đồng bằng sông Hồng, 40 người từ khu 4 cũ và 18 người ở khu 5… Đồng bằng sông Hồng luôn là vùng có quy mô xuất cư lớn nhất trong suốt thời kỳ 1976- 1989. Địa bàn nhập cư của dân di cư từ đồng bằng sông Hồng thay đổi theo từng giai đoạn. Thời kỳ 1976- 1980, 3 địa bàn nhập cư chính là trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Sang đến giai đoạn 1981- 1985 là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long là hai địa bàn cư dân Đồng bằng Sông Hồng đến nhiều nhất trong giai đoạn đầu nhưng càng về sau càng giảm. Trong suốt 3 giai đoạn từ 1976- 1989, Tây Nguyên luôn là nơi mà cư dân Đồng bằng Sông Hồng đến nhiều nhất. Nguyên nhân chính làm cho Đồng bằng Sông Hồng đến nhiều nhất. Nguyên nhân chính làm cho đồng bằng Sông Hồng trở thành nơi xuất cư lớn nhất như phần trên đã nêu. Tại đây, mật độ dân số rất lớn, đất canh tác nông nghiệp không đủ, điều kiện sống của người dân còn nhiều khó khăn… Đây là những lực đẩy khiến cho người dân phải di cư đến những nơi thuận tiện hơn cho cuộc sống.
Địa bàn nhập cư lớn gồm Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long. Số dân di cư đến Tây Nguyên ngày càng tăng. Trong giai đoạn 1976- 1980, cứ 100 người nhập cư thì Tây nguyên có 34 người; sang đến giai đoạn 1981- 1985, trong 100 người đến có 60 người đến Tây Nguyên và đến giai đoạn 1896- 1989 con số này là 86 người. Các vùng khác nhau như Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long càng về giai đoạn sau càng ít người nhập cư.
Tại vùng trung du miền núi phía Bắc, đây là nơi nhập cư chủ yếu của người dân Đồng Bằng sông Hồng. Trong giai đoạn đầu 1976- 1980, dân cư đồng bằng sông Hồng đến đây nhiều nhất nhưng càng về sau càng giảm thậm chí đến giai đoạn sau còn xuất hiện luồng xuất cư tại đây.
Tây Nguyên là nơi nhập cư của nhiều tiểu vùng trong đó đáng kể nhất là đồng bằng sông Hồng. Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi nhập cư của nhiều vùng như đồng bằng sông Hồng, khu 4 cũ và khu 5, Đông Nam Bộ tuy nhiên,mức độ nhập cư giảm dần theo thời gian.
Trong các dòng nhập cư của các vùng cũng chia làm 2 loại. Nhập cư theo kế hoạch và nhập cư tự do. Trong giai đoạn đầu, luồng nhập cư theo kế hoạch chiếm ưu thế. Đây là luồng di dân theo kế hoạch, có sự đầu tư vốn của Nhà nước dể nhằm xây dựng các khu định cư mới. Càng về giai đoạn sau, khi các khu định cư mới hoàn thành và đi vào ổn định thì luồng nhập cư tự do bắt đầu tăng. Họ đến nơi mới, tự liên hệ xin đất,liên hệ nhập khẩu. Hình thức nàytuy linh hoạt nhưng đã gây ra một số hiện tượng tiêu cực như người mới đến tranh chấp đất đai, mâu thuẫn với người dân bản địa… Mặt khác, di dân tự do làm cho dân số tại nơi đến tăng một cách đột biến, gây khó khăn cho đời sống sinh hoạt của người dân.
Tây Nguyên là vùng chậm được khai thác hơn so với các vùng khác.Tại đây còn có rất nhiều tiềm năng chưa dược khai phá về rừng, đất đai khóang sản… Chính vì vậy, việc tập trung đưa dân lên Tây Nguyên khai hoang là hoàn toàn hợp lý. Dân số ở Tây Nguyên phần lớn là người dân tộc với trình độ phát triển rất thấp, xã hội vẫn còn rất nguyên thuỷ, phương thức sinh sống chủ yéu là phát, đốt ,du canh, du cư… do đó, việc đưa dân từ đồng bằng lên Tây Nguyên để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số là một việc rất cần thiết.
Bảng 8: Các luồng di dân đến Tây Nguyên giai đoạn 1975-1979
Đơn vị: người - %
Vùng Số lượng Cơ cấu
1 Miền núi phía Bắc 3,570 2,59

2 Trung du phía bắc 3441 1,60
3 Đồng bằng sông Hồng 57088 26,54
4 Khu 4 cũ 53,794 25,01
5 Khu 5 cũ 79,605 37,01
6 Miền Đông Nam Bộ 12,883 5,99
7 Miền Tây Nam Bộ 2710 1,26
Cộng 215,091 100

Nguồn: Báo cáo hội thảo dân số và phát triển vùng – Trung tâm nghiên cứu dân số và phát triển nguồn lao động . Dự án Vie/ 87/ PO3- trang 119
Như vậy ta thấy 3 vùng đồng bằng sông Hồng, khu 4 cũ và khu 5 cũ có số lượng cư dân chuyển đến Tây Nguyên lớn nhất. Riêng ba khu vực này đã chiếm 88,56% tổng số dân đến Tây Nguyên. Nguyên nhân do sức ép về dân số tại 3 vùng này quá lớn cần thiết phải có sự phân bố lại dân cư cho hợp lý. Các vùng khác có số lượng người di cư đến Tây Nguyên không đáng kể, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu.
Các hình thức di dân đến Tây Nguyên rất đa dạng. Trong thời kỳ đầu khai thác Tây Nguyên rất thiếu lao động, số lao động từ nơi khác đến thường sống độc thân vì tỷ lệ bỏ về rất cao. Để tránh tình trạng này, chính sách mới đưa ra khuyến khích người lao động đến Tây Nguyên mang theo gia đình đã có sức hấp dẫn đối với lao động chuyển cư. Đây là hình thức điều động công nhân viên chức, học sinh tốt nghiệp đến làm việc tại cá nông lâm trường vùng kinh tế mới đem theo gia đình.
Tại những nơi còn diện tích đất khai hoang được thực hiện theo chính sách “ nhà nước và nhân dân cùng làm” thì hình thức di dân là nhỏ lẻ, phan tán. Di dân theo hình thức này có tỷ lệ bám trụ lại cao vì người dân chủ động hơn trong việc chọn nơi mình đến.
Ngoài ra tại Tây Nguyên còn có hình thức di dân theo kiểu thanh niên xung phong và quân đội làm kinh tế theo hình thức này, thanh niên hây quân đội được cử lên trước tạo địa bàn, chuẩn bị các điều kiện để tiếp nhận dân cư đến. Sau những đợt như thế này, một số thanh niên hay bộ đội đã định cư ở lại, chuyển gia đình lên theo, lập nghiệp lâu dài tại Tây Nguyên.
Bên cạnh hình thức di dân có tổ chức, di dân tự do đến Tây Nguyên diễn ra cũng khá mạnh. Cư dân tự do lên Tây Nguyên chủ yếu là từ các tỉnh miền núi phía Bắc. Luồng di dân này đã tạo nên tình trạng dồn dân quá mức vào một số vùng như ở Đắc Lắc.
Bảng 9: Di dân nông nghiệp có tổ chức và di dân tự do tại Đắc Lắc.
Năm
1981 1982 1983 1984 1985 1986
Đắc Lắc 11270 19780 12910 14420 27660 18050
Di dân đến
Có tổ chức
11150 19000 9200 13500 24000 15500
Di dân tự do 120 780 3710 920 3660 2550
% Tự do
1 3,9 2,9 6,4 1,3 1,4
Nguồn : báo cáo hội thảo dân số và phát triển vùng
Dự án Vie/ 87/ PO3- Trung tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động- trang 13
Di dân đối với các dân tộc thiểu số chủ yếu là di dân tự do. Trong giới hạn của cuốn sách xin được lấy việc di dân tự do của người Hmông làm minh hoạ. Người Hmông thường cư trú tại các triền núi cao, chủ yếu là ở phía Tây Bắc. Với phương thức canh tác cổ truyền lạc hậu , đất canh tác của họ sớm bị bạc màu,do đó bắt buộc họ phải chuyển đi nơi khác để tiếp tục đốt rừng làm nương rẫy. Người Hmông ở các tỉnh Lai châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình di chuyển lên Sơn La còn người Hmông tại Sơn La thì lại di chuyển tới các tỉnh khác tại vùng biên giới Việt – Lào. Tại tỉnh Hà Tuyên, người Hmông ở vùng cao biên giới tiến dần vào nội địa như ở Bắc Mô, Bắc quang. Như vậy, thực chất các cuộc di dân của người Hmông là cuộc sống du, canh du ,tìm nơi nào có rừng để đốt nương làm rẫy canh tác.
Ngoài ra còn phải kể đến luồng di dân của người Tày, Nùng vào các tỉnh phía Nam sau năm 1975 và đặc biệt là kể từ cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc.
Biến động dân số giai đoạn 1975- 1986.
Tỷ lệ sinh Việt Nam giai đoạn 1975-1986.
Đơn vị: %

Năm Tỷ lệ
1976 39,50
1977 36,00
1978 34,10
1979 32,50
1980 31,70
1981 30,02
1982 30,41
1983 30,45
1984 29,4
1985 28,41
1986 27,82
Nguồn: Số liệu chọn về phụ nữ Việt Nam 1975 – 1986 – NXB Thống kê -trang 105.
I Tỷ lệ phát triển dân số
Dân số Việt Nam thực sự bùng nổ trong giai đoạn 1955 – 1960 với tỷ lệ phát triển dân số lên đến 3.75%/ năm sau đó giảm dần tuy tốc độ không nhanh do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, chương trình dân số và KHHGĐ đã được triển khai trên phạm vi cả nước nên tỷ lẹ phát triển dân số chung toàn quốc đã giảm xuống từ 3% những năm 1065- 1975 xuống còn 2% trong giai đoạn 1980- 1990. Như vậy tỷ lệ phát triển dân số của Việt Nam vẫn còn cao, mặc dù sau khi kết thúc chiến tranh, tình hình chính trị, kinh tế dần phục hồi, đời sống của người dân đã khá hơn, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho người dân đã được đẩy mạnh, vac xin và thuốc kháng sinh đã được sử dụng rộng rãi cùng với chương trình tiêm chủng cho trẻ em đã làm cho tỷ lệ chết giảm nhiều so với giai đoạn trước nhưng do trong thời kỳ này,tỷ lệ sinh vẫn còn cao cho nên tỷ lệ phát triển dân số còn ở mức tương đối cao.
Năm 1975 xảy ra hiện tượng có một luồng lớn dân di tản ra nước ngoài và đến năm 1978, 1979 do tác động của cuộc chiến tranh biên giới Tây Bắc và Tây Nam đã làm cho tỷ lệ phát triển dân số giảm mạnh. Tuy số người chết trong hai cuộc chiến tranh này không tác động lớn đến tỷ lệ phát triển dân số

HL Biên soạn

Các từ khóa theo tin:

In trang | Gửi góp ý


Các tin trước
Từ ngày 1-4-2009: Tổ chức tổng điều tra dân số và nhà ở (12/07/2008)
Phê duyệt bổ sung danh mục dự án do UNICEF tài trợ (18/01/2007)
Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (13/04/2005)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Pháp lệnh dân số

Số : 06/2003/PL-UBTVQH11

(01/11/2004)
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (19/08/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin tiếp
Việt Nam đã thực hiện đầy đủ cam kết với Quỹ dân số Liên hiệp quốc (09/07/2004)
Nghị định của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số (30/03/2004)
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em hướng dẫn nội dung tuyên truyền Pháp lệnh dân số (30/03/2004)
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 (11/03/2004)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư (số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách DS-KHHGĐ trong thời gian tới (Trích) (11/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
Chiến lược Truyền thông - Giáo dục chuyển đổi hành vi về Dân số - SKSS/KHHGĐ giai đoạn 2001 – 2005 (10/03/2004)
 Trang 1 / 1 Trang đầu | Trước | Sau | Trang cuối
Các tin/bài đọc nhiều nhất
· Thông báo về Lễ tang đồng chí Mai Thúc Lân, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội
· Một số cán bộ lãnh đạo nghỉ hưu từ 1/11
· Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình đối với đồng chí Đinh Văn Điến
· Bổ sung 3 Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương
· Bộ trưởng Bộ Xây dựng yêu cầu làm rõ vụ vỡ đập phụ hồ chứa nước Đầm Hà Động
· Quốc hội thảo luận về vấn đề ngân sách Nhà nước
· Giải quyết chế độ cho lực lượng lao động tiền trạm kinh tế mới
· Sự cố sụt lún lan rộng tại Thanh Hóa là một hiện tượng tai biến địa chất
· Việt Nam đang vay và sẽ trả nợ như thế nào trong những năm tới?
Bản quyền thuộc Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Toà soạn: 381 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: 08048161; Fax : 08044175; E-mail : dangcongsan@cpv.org.vn
Giấy phép số 1554/GP-BTTTT ngày 26/9/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông về cung cấp thông tin lên mạng Internet