|
(ĐCSVN) - Là người Thái ở xã Trung Thành, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình, thầy Lường Đức Chôm luôn trăn trở khi những đứa trẻ trong bản chẳng mấy lưu tâm tìm học chữ của tổ tiên để có thể đọc được những câu khắp, câu lượn, những điệu dân ca, đối đáp giao duyên và tìm hiểu cội nguồn, luật tục của dân tộc mình.
Xót xa trước gia tài quý báu của cha ông để lại không có người kế tục và lưu truyền, từ thầy giáo dạy tiếng Kinh, thầy Lường Đức Chôm (Đà Bắc, Hòa Bình) đã mày mò nghiên cứu, tự học tiếng Thái cổ của tổ tiên và tình nguyện truyền lại cho con em dân tộc mình với mong mỏi gìn giữ được những tinh hoa văn hoá đặc sắc của dân tộc.
 |
|
Dự Hội thảo "Bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số - tiếng nói từ cộng đồng" do Viện Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường tổ chức, thành tích của thầy Lường Đức Chôm luôn hút sự quan tâm của báo chí (Ảnh: K.T) |
Hành trình đến với chữ Thái muộn
Sinh năm 1953, ngay từ bé, khác với những đứa bạn cùng trang lứa lăn lộn với cái nương, cái rẫy, cậu bé Lường Đức Chôm đã được bố mẹ cho đi học tiếng phổ thông. Với vốn kiến thức tích lũy được sau nhiều năm ngồi trên ghế nhà trường, chàng thanh niên Lường Đức Chôm không mấy khó khăn để xin về làm công tác thống kê tại UBND huyện Đà Bắc, rồi chuyển sang làm nghề “gõ đầu trẻ” với mong muốn được truyền thụ những kinh nghiệm và kiến thức quý báu đã học cho con em dân tộc mình. 15 năm gắn bó với sự nghiệp giáo dục với bao nhiệt huyết và niềm đam mê, nhưng rồi, người thầy giáo tận tụy “cõng chữ lên non” nhận ra rằng: Dạy chữ phổ thông cho con em dân tộc là cần thiết, nhưng nếu không có mình thì đã có thầy cô giáo người Kinh dạy thay; còn nếu không học và truyền lại vốn chữ Thái cổ và văn hóa Thái cổ, thì nguy cơ mai một văn hóa Thái là rất lớn... Vì vậy, thầy đã xin được biệt phái dạy xoá mù và phổ cập giáo dục tiểu học, để có thêm điều kiện nghiên cứu chữ Thái cổ. Ngay từ những bài giảng sơ khai của mình, thầy Lường Đức Chôm đã khéo léo lồng ghép những câu khắp, câu lượn, những bài dân ca....của tổ tiên, gieo vào tâm hồn con trẻ những tinh tuý văn hoá của người Thái.
Được ông nội truyền lại kho sách cổ đồ sộ, với khao khát được tìm hiểu văn hoá của cha ông, nên dù lúc đó đã ngoài 30 tuổi nhưng thầy Lường Đức Chôm vẫn tìm tới chữ Thái cổ và bắt đầu từ những nét sơ khai đầu tiên như con trẻ. Chuyển sang học tiếng Thái khi đã lớn tuổi, nhiều lúc khó khăn khiến thầy nghĩ tới chuyện bỏ cuộc. Nhưng rồi mỗi lần giở sách của ông nội ra mà không đọc được, thầy Chôm rất buồn. Bao nhiêu tục ngữ, ca dao... của người Kinh mình còn đọc được, thuộc được thế mà dân ca, dân vũ... của dân tộc mình, mình lại bó tay... Không chịu đầu hàng, thầy Chôm lại cặm cụi ngày đêm học chữ viết của tổ tiên. Khó khăn rồi cũng qua đi, càng học càng ham, càng muốn tìm hiểu nhiều. Lương thấp, lại phải nuôi cả gia đình, nên nhiều khi để có tiền mua tài liệu, thầy đã phải vận động gia đình bán bò, bán lương thực.
Gian nan gìn giữ vốn cổ của dân tộc
Với niềm say mê nghiên cứu và học tập, chẳng bao lâu, thầy Lường Đức Chôm đã biết đọc thông viết thạo tiếng Thái. Càng đọc, càng hiểu lại càng thêm yêu, tự hào và quyết tâm gắn bó, gìn giữ vốn quý của tổ tiên.
Với suy nghĩ: Người Thái phải biết chữ Thái, không biết thì phải học, người đã biết phải dạy cho người chưa biết để cùng nhau xây dựng một cộng đồng đoàn kết và đậm đà bản sắc văn hoá; khi chuyển sang UBND xã Trung Thành biệt phái dạy xoá mù và phổ cập giáo dục tiểu học, ngoài công việc chuyên môn, thầy Chôm tự mày mò thiết kế giáo trình dạy chữ Thái cổ, tổ chức hội thảo lấy ý kiến và tìm sự đồng thuận của các bậc tiền bối trong bản, trong xã. Khi đã nhận được sự ủng hộ của các vị có chức sắc trong bản, thầy tham mưu cho chính quyền làm tờ trình gửi các cấp lãnh đạo và ngành giáo dục xin dạy và học chữ Thái cổ.
Chủ trương đã có, tưởng rằng hành trình phổ cập chữ Thái cho chính con em dân tộc Thái sẽ đơn giản, nhưng thực tế lại không như thầy nghĩ. Mọi gia đình ai cũng ủng hộ cho con em mình đi học cái chữ của tổ tiên, nhưng ngặt một nỗi đường xá xa xôi, từ nhà tới chỗ học phải qua "mấy con dao quăng". Trời nắng đã vậy, còn lúc trời mưa, đường trơn, nước suối chảy xiết..., tiền ăn đường lại không có...., thế nên dù có thích nhưng nhiều em chỉ dám nghĩ tới điều đó trong ước mơ.
Để học sinh đến lớp, thầy Chôm lại một lần nữa vượt dốc, băng đèo đến tận nhà thuyết phục và truyền lòng quyết tâm cho cả phụ huynh lẫn học sinh. Không kể mưa rừng hay sương núi, không kể mùa tra hạt hay mùa đốt nương..., trong cuộc chiến bảo tồn chữ viết của dân tộc, vũ khí đắc lực của thầy là sự kiên tâm. Mưa dầm thấm lâu, nhiều gia đình thầy phải tới vận động nhiều lần mới chịu cho con em tới lớp. Để đảm bảo sĩ số, thầy còn vận động chính quyền ủng hộ các em theo học tiếng dân tộc mỗi tháng hai trăm ngàn đồng để lấy tiền ăn đường.
Lớp học rồi cũng đông dần, lớp đầu tiên do thầy mở năm 2006 đã có tới 30 học sinh. Tiếng lành đồn xa, thấy được công dụng thiết thực của việc học tiếng Thái, không chỉ con em những người Thái mà cả cán bộ người Kinh công tác tại địa phương và những người yêu văn hoá Tày-Thái cũng tìm đến để xin học. Đến nay, thầy đã mở được 6 lớp, mỗi lớp 60 học sinh. Những người kế tục sự nghiệp của thầy Chôm cũng ngày càng nhiều, trong đó có cả cán bộ người Tày và người Kinh.
Giờ đây, mỗi mùa lễ hội Xên Mường, Hạn Khuống hay Cơm mới... của người Tày, người Thái, niềm hạnh phúc nhất của thầy Chôm chính là được nghe những câu khắp, câu lượn, những điệu đối đáp giao duyên... của trai gái người Tày kiêu hãnh, ngân vang khắp núi rừng, truyền tụng từ thế hệ này đến thế hệ khác như khẳng định sự bất diệt và bản sắc văn hoá độc đáo có một không hai của mình./.
|